Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (lưong anh quang 0972693793)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang web chúng tôi xây dựng như thế này có được không?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Sh12_b41_dien_the_sinh_thai.flv Sh_su_tien_hoa_ve_moi_truong_song_va_su_van_dong_di_chuyen.flv Chu_dung_net_deu.png Ao_canh_doi_.jpg Happy_new_year.swf KNV2loan.swf Emdiduacom.swf Hatinhminhthuong.swf Hinh0170.jpg Hinh0169.jpg Hinh0168_001.jpg Hinh0168.jpg Hinh00861.jpg Hinh00571.jpg Hinh00561.jpg Hinh00221.jpg Hinh00183.jpg Hinh00172.jpg 14_viet_chu_q_g.swf 12_viet_chu_a_dtd.swf

    Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Báo mới

    Bể Cá Cảnh

    Sắp xếp dữ liệu

    HOT NEW

    Chào mừng các bạn đến với website của LƯƠNG ANH QUANG .Cảm ơn các bạn đã truy cập và ủng hộ website của Quang!

    Chào mừng quý vị đến với Violet Và Những Người Bạn.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa thế giới >

    LƯU HÂM

    LƯU HÂM
    (Không rõ năm sinh - mất năm 23 trước Công nguyên)



    _ Kinh học là môn học chú giải xiển minh Kinh điển Nho gia. Kinh điển Nho gia là pháp định của chính quyền phong kiến Trung Quốc, lấy Khổng Tử làm đại biểu cho học thuyết Nho gia. Trong xã hội phong kiến hơn 2.000 năm ở Trung Quốc, kinh điển Nho gia lưu hành không hề suy giảm, Kinh học được quan niệm xã hội truyền thống và được các đế vương bảo vệ tôn sùng trở thành mộn học quan phương lấy làm mẫu mực nghị luận và xiển phát đạo học trong các phần tử trí thức.

    _ Kinh học trở thành học thuyết của giai cấp thống trị trong lịch sử Trung Quốc phải bắt đầu từ cuối thế kỉ thứ hai trước Công nguyên. Đến cuối đời Tây Hán, một học giả tên Lưu Hâm giương cao ngọn cờ Cổ văn Kinh học để chống lại phái Kim văn Kinh học đang tràn lan lúc ấy. Từ đấy, Kinh học chia ra hai phái là Kim văn Kinh học và Cổ văn Kinh học.

    _ Lưu Hâm xuất thân trong hoàng tộc triều Tây Hán, phụ thân ông tên Lưu Hướng là một kinh học gia trứ danh đương thời. Từ nhhỏ, Lưu Hâm đã thụ hưởng gia giáo nghiêm khắc, còn trẻ đã thông hiểu Thi, Thư,... viết văn chương rất giỏi. Khoảng niên hiệu Hà Bình đời Hán Cảnh đế (từ năm 28 đến năm 25 trước Công nguyên), Lưu Hâm phụng mệnh hoàng đế cùng vơi cha giữ chức Hiệu bí thư sửa chữa hiệu đính toàn bộ Kinh điển Nho gia và các sách Bách khoa chư tử, thi ca từ phú, thiên văn địa lý, thuật toán phương kỹ. Mỗi khi họ sửa chữa hiệu đính xong sách nào đều ấn định chương mục, viết phần đề yếu. Sau khi Lưu Hướng qua đời, Lưu Hâm kế thừa sự nghiệp của cha, tiếp tục làm công việc sửa chữa hiệu đíhn sách vở. Trong thời gian hoàn thành nhiệm vụ sửa chữa hiệu đính sách vở, Lưu Hâm viết xong tác phẩm nổi tiếng đầu tiên phân loại các sách vở điển tịch, đặt tên là Thất lượ, sáng lập môn học Mục lục học ở Trung Quốc. Sách chia làn sáu phần. Thành tập lược là bài tổng tựa và tổng mục, sau đó chia ra các sách văn thơ từ phú trong chương là Thi phú lược, các sách quân sự quyền mưu trong chương Phương kỹ lược, tất cả gồm thâu thành mục lục 1 vạn 3 ngàn 2 trăm 69 quyển. Hệ thống phân loại của bộ Thất lược cơ bản căn cứ vào nội dung học thuật của các thư tịch, sau này hầu hết các nhà học giả đều theo nguyên tắc ấy và trải qua nhiều sự chỉnh lý các đời sau trở thành cơ sở phương pháp phân loại thành bốn loại Kinh, Sử, Tử, Tập.

    _ Đối với sự nghiên cứu Kinh học ở Trung Quốc, Lưu Hâm chỉnh lý thư tịch cổ lại càng có ảnh hưởng đến sự phát triển của văn hoá Trung Quốc một cách toàn diện. Triều Hán thay triều Tần, Huệ đế bãi bõ cấm thư, Kinh điển Nho gia được giải phóng. Do vì Tần Thủy Hoàng đốt sạch triệt để nên Nho gia thời Hán không có căn cứ để nghiên cứu văn hoá cũ, đa số họ chỉ căn cứ vào trí nhớ của các lão Nho đọc cho nghe rồi chép lại, phổ biến thành sách gọi là Kim văn Kinh.... Thời Hán Võ đế, con trai Cảnh đế là Cugn vương Lưu Dư muốn mở rộng cung thất của mình, cho phá nhà cũ của Khổng Tử đi, trong những bước tường cũ phát hiện được những bộ Kinh điển viết bằng cổ văn (văn tự trước đời Tần Hán), những sách ấy ghi chép Kinh điển Nho gia, sau này được cháu đời thứ hai mươi của Khổng Tử là Khổng An Quốc dâng hiến cho quốc gia. Sách dùng văn tự cổ được coi là Cổ văn Kinh, nhưng các sách này được cất vào thư viện trong thời gian dài hkông được coi trọng. Lưu Hâm và cha và Lưu Hướng thoạt đầu chỉ chuyên nghiên cứu Kinh Dịch... Thời Hán Tuyên đế, Lưu Hướng phụng mệnh nghiên cứu bộ Cốc Lương Xuân Thu, trải qua hơn mười năm, ông trở thành chuyên gia về bộ này. Trong lúc hiệu đính lại sách của cha, Lưu Hâm đọc được bản cổ văn bộ truyện Xuân Thu tả thị truyện, ông hết sức vui mừng đem hết tâm lực ra nghiên cứu. Thoạt đầu, sách Tả truyện có nhiều chữ cổ, các học giả phải phân tích từng chữ từng câu (huấn hỗ). Lưu Hâm dùng truyện văn để giai thích Kinh văn, nhờ đó mà từng câu từng nghĩa của sách Xuân Thu Tả truyện đều hết sức rõ ràng. Tuy Lưu Hâm dùng quan điểm phái Cổ văn Kinh học luận chiến kịch liệt với phái Kim văn Kinh học, địa vị của Kim văn Kinh học được vững mạnh. Khi Ai đế (nhà Hán) chết, Bình đế lên ngôi dùng Vương Mãng phụ chính. Vương Mãng thưở nhỏ cũng giữ chức Honàg môn thị lang với Lưu Hâm, Mãng lại rất tôn trọng học thuật của ông nên Mãng tiến cữ ông lên thái hậu. Nhờ đó, Lưu Hâm trở thành một yếu nhân về văn chương học thuật, Vương Mãng cực lực ủng hộ Cổ văn Kinh học, từ đó, Kinh điển Nho gia Trung Quốc chia ra hai phái Kim văn Kinh và Cổ văn Kinh.

    _ Từ khi Lưu Hâm khai sáng ra Cổ văn Kinh học, cuộc vận động kinh học thời Trung Quốc cổ đại kéo dài hơn 2.000 năm cùng đấu trnah kịch liệt với Kim văn Kinh học. Nói một cách đại thể, Cổ văn cho rằng Lục Kinh (sáu bộ Kinh điển; Thi, Thư, Lễ, Dịch, Nhạc, Xuân Thu) là sử liệu thời tối cổ, Khổng Tử chỉ là vị thánh nhân "Thuật nhi bất tác, tín nhi vị cổ" (chỉ thuật lại mà không sáng tác, tin vào việc xưa), công trạng của thánh nhân này chỉ chỉnh lí các sử liệu thời tối cổ và bảo tồn truyền thống văn hoá. Còn phái Kim văn Kinh gia cho rằng Khổng Tử áp dụng phương pháp "Thái cổ cải chế" (mượn việc xưa làm mới lại việc nay) có công phu chế tác khiến các Kinh điển mang nội dung phong phú, do đó Khổng Tử mới trở thành chính trị gia, triết học gia. Cổ văn gia và Kim văn gia đều tôn sùng Khổng Tử, nhưng từ những góc độ khác nhau. Cổ văn gia tôn sùng Khổng Tử như một bậc tổ sư của văn hoá Trung Quốc, còn Kim văn gia tôn sùng Khổng Tử như một bậc "tố vương" (vua không ngai) của Trung Quốc cổ đại, nghĩa là họ Khổng có tài đức của bậc đế vương nhưng chỉ không ngồi trên ngai vị. Chỗ khác biệt của Cổ văn Kinh học và Kim văn Kinh học là Cổ văn gia coi trnọg sự "hiệu khám huấn hỗ'" (chú giải hiệu đính từng câu nghĩa), còn Kim văn gia chú trọng ở chỗ "vi ngôn đại nghĩa" (nói ít mà nghĩa rộng) lập quan hệ giữa khảo sát Kinh văn và hiện thực xã hội. Trong lịhc sử truyền thống xã hội lâu dài của Trung Quốc, Cổ văn Kinh học và Kim văn Kinh học luôn luôn đấu tranh và lúc hơn lúc thua tnog từng thời điểm lịch sử và đều có những đặc sắc riêng. Cuộc đấu tranh ấy đã khiến Kinh học văn hoá Trung Quốc xuất hiện muôn ngàn hình tượng sắc thái rực rỡ, tạo ảnh hưởng sâu sắc tới nhiều mặt cho truyền thống chính trị văn hoá và học thuật văn hoá của Trung Quốc.t
    Nhắn tin cho tác giả
    Lương Anh Quang @ 13:15 26/07/2009
    Số lượt xem: 1254
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến