Chào mừng quý vị đến với Violet Và Những Người Bạn.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa thế giới >
TƯ MÃ THIÊN
TƯ MÃ THIÊN
(Sinh năm 145 (?) - mất năm 89 (?) trước Công nguyên)
_ Một cá nhân có thành tự kinh thiên động địa rung chuyển cổ kim thường thường do hoàn cảnh đặc thù, tôi luyện nên phẩm cách đặc biệt của người ấy. Tư Mã Thiên chính là nhân vật lịch sử vĩ đại ở trường hợp thế. Ông thông minh hiếu học, được nền giáo dục ưu tú tôi luyện, lại phải tra hoàn cảnh mà người khác khó chịu đựng được. Cuối cùng, ông trở thành một người cương liệt, lập nên sự nghiệp vĩ đại, ảnh hưởng sâu đậm tới diện mạo văn hoá Trung Quốc.
_ Tư Mã Thiên tên tự là Tử Trường, là người đất Hàn thành, Thiểm Tây ngày nay. Ông sinh ra trong một gia đình nhiều đời có học, cha ông là Tư Mã Đàm là một nhà đại học vấn thời ấy. Từ nhỏ nhận được nền giáo dục gia đình nghiêm khắc, bồi dưỡng phẩm cách ông cần mẫn hiếu học. Mười tuổi, ông đã thông hiểu cổ văn (văn chương trước đời Tần, Hán người lúc đó gọi là cổ văn). Dưới sự hun đút dạy dỗ trong thời gian dài của cha, Tư Mã Thiên càng ngày càng ham thích nghiên cứu lịch sử. Để tạo điều kiện cho con nghiên cứu lịch sử, năm Tư Mã Thiên hai mươi tuổi, cha ông không tiếc tiền bạc chu cấp cho ông xuất du học hỏi khảo sát "thu thập kiến văn đã mất mát trong thiên hạ". Trong thời gian du khảo, Tư Mã Thiên chú trọng tới việc tìm hiểu và khảo sát các di tích lịch sử và thu thập cá di vật lịch sử còn sót lại. Ông leo núi Lư sơn để xem di tích của vua Võ; ông đến kinh đô cũ đất Tề đất Lỗ xem di tích của Khổng Tử; ông đến đất Sở xem thành cũ của Xuân Thân quân; ông qua đất Phong, đất Búi hỏi thăm các bậc cố lão, thăm nhà các danh tướng Tiêu Hà, Tào Tham, Phàn Khoái, Đằng Công,... Tóm lại, lần tráng du này của ông phạm vi bao quát suốt vùng trung tâm Trung Nguyên. Chính nhờ lần du khảo lâu dài này, ông hiểu rất rõ con đường hành quân của quân Sở, Hán và những khuất khúc trong tình hình lịch sử triều Hán mở nước. Ông còn học được nhiều tục ngữ ca dao và phong tục đặc sắc trong dân gian, hiểu biết thêm nhiều cuộc đời anh hùng thảo dã giúp ông sau này viết sử với "bút lực tinh thần như thấu xuyên qua giấy".
_ Theo di mệnh của phụ thân Tư Mã Thiên mong muốn, ông phải có thành tựu sáng tạo trong lĩnh vực lịhc sử học. Năm Tư Mã Thiên 36 tuổi, cha ông theo Hán Võ đế tham dự đại lễ "phong thiện" ở núi Thái sơn, khi về nghỉ chân ở chỗ Lạc Dương (Hà Nam ngày nay), Tư Mã Đàm lâm bệnh nặng, Tư Mã Thiên vừa đi sứ vùng tây nam về nghe tin vội chạy đến vĩnh biệt cha. Cha ông hết sức ân hận dặn dò: "Bốn trăm năm nay, các chư hầu kiêm tích lẫn nhau khiến sử sách mất mát. Nay nhà Đại Hán hưng thịnh, trong ngoài thống nhất, nước có vua sáng tôi hiền, trong triều có trung thần nghĩa sĩ, cha làm Thái sử mà không ghi chép được đầy đủ chuyện cũ nên cảm thấy hết sức lo sợ. Hy vọng con nhớ kỹ nỗi ân hận của cha". Trong lúc Tư Mã Đàm hấp hối, Tư Mã Thiên lập lời thề: "Tiểu tử tuy không thông tuệ nhưng xin nhớ mãi lời dạy của cha, con sẽ chỉnh lý những gì biết cũ để không còn sai sót nhiều". Nỗi ân hận cuối đời của Tư Mã Đàm làm kiên định thêm ý chí kế thừa sự nghiệp cha của Tư Mã Thiên và giúp ông quyết tâm biên soạn lịch sử.
_ Năm Tư Mã Thiên 38 tuổi, ông được Hán Võ đế cho giữ chức Thái sử lệnh, điều ấy khiến cho ông rất hưng phấn. Ông thận trọng chỉnh lý duyệt đọc Bách thất kim quỹ chi thư là sách thu thập hầu hết các di văn đời trước, chuẩn bị cho biên soạn một hệ thống sử quán thông cổ kim, ông bắt đầu bỏ cả ăn ngủ viết bộ Sử ký.
_ Năm Tư Mã Thiên 47 tuổi, tại hoạ giáng xuống đầu ông. Năm ấy, Hán Võ đế sai anh họ là đại tướng Lý Quảng Lợi đem quân đi đánh Hung Nô và sai Lý Lăng theo hậu phương đem lương thực, nhưng Lý Lăng xin ra tiền tuyến đánh giặc để dẫn dụ lạc hướng quân Hung Nô giúp Lý Quảng Lợi dễ dàng chiến thắng. Do vì Lý Lăng quân ít lại tiến vào sâu không đánh lại địch, toàn quân tan vỡ đành phải đầu hàng Hung Nô. Tin Lý Lăng đầu hàng đưa về đến kinh sư, Hán Võ đế nổi giận, bọn a dua xu nịnh đổ tội cho Lý Lăng vè bênh vực Lý Quảng Lợi càng làm Hán Võ đế giận dữ. Tư Mã Thiên chân chính không có cảm tình với tình trạng xu nịnh ấy. Là một tôi thần, Tư Mã Thiên không can hệ gì đến quân sự và ông cũng chẳng phải bạn thân thiết gì của Lý Lăng. Khi Hán Võ đế hỏi tới ý kiến ông, ông cứ như sự thật biểu đạt ý kiến của mình. Ông nói, khi mới xuất quân, Lý Lăng là người chủ động xin đi đánh không màn tới sinh tử, điều đó đủ đáng phục, huống gì trong lúc giao chiến, Lý Lăng chỉ có chưa tới 5.000 quân dám tiến sâu vào đất địch làm Hung Nô rung chuyển, đánh hơn mười ngày giết không biết bao nhiêu kẻ địch, chỉ vì không có viện binh để đến nỗi bại trận. Nay Lý Lăng đã bị địch bắt, là hàng thật hay hàng giả là chưa biết được. Theo thần suy đoán, có thể Lý Lăng trá hàng Hung Nô để đợi cơ hội báo đền ân đức triều Hán. Mà dù tệ hơn, Lý Lăng có thật hàng đi chăng nữa, công ông ta cũng đã hơn thiên hạ. Tấm lòng thành thật của Tư Mã Thiên không phải chỉ bênh vực cho Lý Lăng mà còn là muốn khuyên Võ đế nên công bình. Nhưng lời nói thẳng của ông chẳng những không làm Hán Võ đế bớt giận, trái lại còn chọc giận thêm. Theo ý Hán Võ đế, Tư Mã Thiên bênh vực cho Lý Lăng là có ý chỉ trích Lý Quảng Lợi, anh họ của đế và như vậy là có ý gián tiếp chỉ trích Võ đế. Vì vậy, Hán Võ đế đổ tội danh cho Tư Mã Thiên "phạm thượng" và bắt Tư Mã Thiên vào ngục, định vào tội chết. Theo pháp luật thời ấy, có thể đem 50 vạn tiền ra chuộc tội chết hoặc là chịu tội "hủ hình" (tội thiến) để miễn chết cố sống nhẫn nhục. Tiền thì do bổng lộc của ông có hạn, không có tíhc lũy gì mà bạn bè chung quanh không ai ra tay cứu. Còn đối với "hủ hình", ông đã tự đấu tranh với mình. Trong quan niệm cổ đại ông giác ngộ ra biện chứng sinh tử: "Người ta chỉ một lần chết, có cái chết nặng như Thái sơn mà cũng có cái chết nhẹ như lông hồng". Ông quyết tâm nhẫn nhục sinh tồn để hoàn thành sự nghiệp mà ông đeo đuổi. Ông cố nén nhẫn nhục bi phẫn để kế tục ý hướng của cha dặn lại trước khi chết. Vào khoảng năm 93 trước Công nguyên, Tư Mã Thiên 53 tuổi, ông viết xong bộ Thái sử công thư (tức Sử ký) vĩ đại ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển của văn hoá Trung Quốc.
_ Sử ký ra đời có ý nghĩa đặc biệt trên con đường phát triển của văn hoá Trung Quốc. Trước đời Hán, Trung Quốc cũng đã có sách vở ghi chép lịch sử như các sách: Thượng thư, Xuân thu, Quốc ngữ, Chiến quốc sách, Thế bản,... Những bộ sách này không thuần túy chỉ có ý nghĩa sử học mà là loại lập ngôn mượn sự việc, vừa giản lược vừa tản mạn, lại có nhiều thiếu sót lẫn lộn giữa việc đáng tin và việc không đáng tin. Đến đầu đời Hán, sử học Trung Quốc tiến vào giai đoạn tự giác, khiến sử học trở thành môn học độc lập uyên bác, vì vậy ông được gọi là "tổ sư khai sơn của loại học vấn này". Tư Mã Thiên viết Sử ký, tường thuật lại sự phát triển của dân tộc Trung Quốc từ đầu đến đời Hán, ông dùng nhân vật làm trung tâm, dùng những sự kiện lịch sử quan trọng làm mối, đồng thời ông còn chia ra từng môn loại ghi chép khái quát sự phát triển đủ mọi loại chế độ xã hội từ đời Hoàng đế đến đời Hán Võ đế về đủ mọi phương diện thiên văn, địa lý, pháp luật, kinh tế,... không gì ông không đề cập tới. Vì vậy, bộ này còn là bức tranh toàn diện về lịhc sử xã hội Trung Quốc. Trong phần "kỷ truyện" ghi chép nhân vật là trung tâm, Tư Mã Thiên không chỉ chép về đế vương mà còn chép cả những anh hùng thất bại, không chỉ chép về các nhà quý tộc thế gia, mà còn chép cả về các thủ lãnh bị gọi là "phản loạn", ông chép từ truyện quan liêu cho đến các văn học gia kiệt xuất, triết học gia, khoa học gia, đến cả các địa chủ nổi tiếng, các thương nhân, đến tận cả các giai tầng lưu lãng trong xã hội như du hiệp,... Cơ hồ ông chú ý đến mọi giai tầng trong xã hội với ngòi bút miêu tả sinh động. Nhờ đó, Sử ký trở thành "bộ xã hội sử quy mô đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc". Sự ra đời của nó mở đầu cho công tác viết sử xã hội ở Trung Quốc.
_ Tư Mã Thiên vì xã hội viết sử, thể hiện tư tưởng và hành vi của quốc dân, ông cũng là ông tổ của phương pháp biên soạn lịch sử theo thể loại "Kỷ truyện". Từ đó về sau, sử gia Trung Quốc trong hơn hai ngàn năm đều coi thể "Kỷ truyện" là phương pháp chính tông trong sử học. Cho đến ngày nay, phẩm cách và tác phẩm vĩ đại của Tư Mã Thiên vẫn là đỉnh cao của sử học Trung Quốc.t
__________________
Lương Anh Quang @ 13:13 26/07/2009
Số lượt xem: 1456
(Sinh năm 145 (?) - mất năm 89 (?) trước Công nguyên)
_ Một cá nhân có thành tự kinh thiên động địa rung chuyển cổ kim thường thường do hoàn cảnh đặc thù, tôi luyện nên phẩm cách đặc biệt của người ấy. Tư Mã Thiên chính là nhân vật lịch sử vĩ đại ở trường hợp thế. Ông thông minh hiếu học, được nền giáo dục ưu tú tôi luyện, lại phải tra hoàn cảnh mà người khác khó chịu đựng được. Cuối cùng, ông trở thành một người cương liệt, lập nên sự nghiệp vĩ đại, ảnh hưởng sâu đậm tới diện mạo văn hoá Trung Quốc.
_ Tư Mã Thiên tên tự là Tử Trường, là người đất Hàn thành, Thiểm Tây ngày nay. Ông sinh ra trong một gia đình nhiều đời có học, cha ông là Tư Mã Đàm là một nhà đại học vấn thời ấy. Từ nhỏ nhận được nền giáo dục gia đình nghiêm khắc, bồi dưỡng phẩm cách ông cần mẫn hiếu học. Mười tuổi, ông đã thông hiểu cổ văn (văn chương trước đời Tần, Hán người lúc đó gọi là cổ văn). Dưới sự hun đút dạy dỗ trong thời gian dài của cha, Tư Mã Thiên càng ngày càng ham thích nghiên cứu lịch sử. Để tạo điều kiện cho con nghiên cứu lịch sử, năm Tư Mã Thiên hai mươi tuổi, cha ông không tiếc tiền bạc chu cấp cho ông xuất du học hỏi khảo sát "thu thập kiến văn đã mất mát trong thiên hạ". Trong thời gian du khảo, Tư Mã Thiên chú trọng tới việc tìm hiểu và khảo sát các di tích lịch sử và thu thập cá di vật lịch sử còn sót lại. Ông leo núi Lư sơn để xem di tích của vua Võ; ông đến kinh đô cũ đất Tề đất Lỗ xem di tích của Khổng Tử; ông đến đất Sở xem thành cũ của Xuân Thân quân; ông qua đất Phong, đất Búi hỏi thăm các bậc cố lão, thăm nhà các danh tướng Tiêu Hà, Tào Tham, Phàn Khoái, Đằng Công,... Tóm lại, lần tráng du này của ông phạm vi bao quát suốt vùng trung tâm Trung Nguyên. Chính nhờ lần du khảo lâu dài này, ông hiểu rất rõ con đường hành quân của quân Sở, Hán và những khuất khúc trong tình hình lịch sử triều Hán mở nước. Ông còn học được nhiều tục ngữ ca dao và phong tục đặc sắc trong dân gian, hiểu biết thêm nhiều cuộc đời anh hùng thảo dã giúp ông sau này viết sử với "bút lực tinh thần như thấu xuyên qua giấy".
_ Theo di mệnh của phụ thân Tư Mã Thiên mong muốn, ông phải có thành tựu sáng tạo trong lĩnh vực lịhc sử học. Năm Tư Mã Thiên 36 tuổi, cha ông theo Hán Võ đế tham dự đại lễ "phong thiện" ở núi Thái sơn, khi về nghỉ chân ở chỗ Lạc Dương (Hà Nam ngày nay), Tư Mã Đàm lâm bệnh nặng, Tư Mã Thiên vừa đi sứ vùng tây nam về nghe tin vội chạy đến vĩnh biệt cha. Cha ông hết sức ân hận dặn dò: "Bốn trăm năm nay, các chư hầu kiêm tích lẫn nhau khiến sử sách mất mát. Nay nhà Đại Hán hưng thịnh, trong ngoài thống nhất, nước có vua sáng tôi hiền, trong triều có trung thần nghĩa sĩ, cha làm Thái sử mà không ghi chép được đầy đủ chuyện cũ nên cảm thấy hết sức lo sợ. Hy vọng con nhớ kỹ nỗi ân hận của cha". Trong lúc Tư Mã Đàm hấp hối, Tư Mã Thiên lập lời thề: "Tiểu tử tuy không thông tuệ nhưng xin nhớ mãi lời dạy của cha, con sẽ chỉnh lý những gì biết cũ để không còn sai sót nhiều". Nỗi ân hận cuối đời của Tư Mã Đàm làm kiên định thêm ý chí kế thừa sự nghiệp cha của Tư Mã Thiên và giúp ông quyết tâm biên soạn lịch sử.
_ Năm Tư Mã Thiên 38 tuổi, ông được Hán Võ đế cho giữ chức Thái sử lệnh, điều ấy khiến cho ông rất hưng phấn. Ông thận trọng chỉnh lý duyệt đọc Bách thất kim quỹ chi thư là sách thu thập hầu hết các di văn đời trước, chuẩn bị cho biên soạn một hệ thống sử quán thông cổ kim, ông bắt đầu bỏ cả ăn ngủ viết bộ Sử ký.
_ Năm Tư Mã Thiên 47 tuổi, tại hoạ giáng xuống đầu ông. Năm ấy, Hán Võ đế sai anh họ là đại tướng Lý Quảng Lợi đem quân đi đánh Hung Nô và sai Lý Lăng theo hậu phương đem lương thực, nhưng Lý Lăng xin ra tiền tuyến đánh giặc để dẫn dụ lạc hướng quân Hung Nô giúp Lý Quảng Lợi dễ dàng chiến thắng. Do vì Lý Lăng quân ít lại tiến vào sâu không đánh lại địch, toàn quân tan vỡ đành phải đầu hàng Hung Nô. Tin Lý Lăng đầu hàng đưa về đến kinh sư, Hán Võ đế nổi giận, bọn a dua xu nịnh đổ tội cho Lý Lăng vè bênh vực Lý Quảng Lợi càng làm Hán Võ đế giận dữ. Tư Mã Thiên chân chính không có cảm tình với tình trạng xu nịnh ấy. Là một tôi thần, Tư Mã Thiên không can hệ gì đến quân sự và ông cũng chẳng phải bạn thân thiết gì của Lý Lăng. Khi Hán Võ đế hỏi tới ý kiến ông, ông cứ như sự thật biểu đạt ý kiến của mình. Ông nói, khi mới xuất quân, Lý Lăng là người chủ động xin đi đánh không màn tới sinh tử, điều đó đủ đáng phục, huống gì trong lúc giao chiến, Lý Lăng chỉ có chưa tới 5.000 quân dám tiến sâu vào đất địch làm Hung Nô rung chuyển, đánh hơn mười ngày giết không biết bao nhiêu kẻ địch, chỉ vì không có viện binh để đến nỗi bại trận. Nay Lý Lăng đã bị địch bắt, là hàng thật hay hàng giả là chưa biết được. Theo thần suy đoán, có thể Lý Lăng trá hàng Hung Nô để đợi cơ hội báo đền ân đức triều Hán. Mà dù tệ hơn, Lý Lăng có thật hàng đi chăng nữa, công ông ta cũng đã hơn thiên hạ. Tấm lòng thành thật của Tư Mã Thiên không phải chỉ bênh vực cho Lý Lăng mà còn là muốn khuyên Võ đế nên công bình. Nhưng lời nói thẳng của ông chẳng những không làm Hán Võ đế bớt giận, trái lại còn chọc giận thêm. Theo ý Hán Võ đế, Tư Mã Thiên bênh vực cho Lý Lăng là có ý chỉ trích Lý Quảng Lợi, anh họ của đế và như vậy là có ý gián tiếp chỉ trích Võ đế. Vì vậy, Hán Võ đế đổ tội danh cho Tư Mã Thiên "phạm thượng" và bắt Tư Mã Thiên vào ngục, định vào tội chết. Theo pháp luật thời ấy, có thể đem 50 vạn tiền ra chuộc tội chết hoặc là chịu tội "hủ hình" (tội thiến) để miễn chết cố sống nhẫn nhục. Tiền thì do bổng lộc của ông có hạn, không có tíhc lũy gì mà bạn bè chung quanh không ai ra tay cứu. Còn đối với "hủ hình", ông đã tự đấu tranh với mình. Trong quan niệm cổ đại ông giác ngộ ra biện chứng sinh tử: "Người ta chỉ một lần chết, có cái chết nặng như Thái sơn mà cũng có cái chết nhẹ như lông hồng". Ông quyết tâm nhẫn nhục sinh tồn để hoàn thành sự nghiệp mà ông đeo đuổi. Ông cố nén nhẫn nhục bi phẫn để kế tục ý hướng của cha dặn lại trước khi chết. Vào khoảng năm 93 trước Công nguyên, Tư Mã Thiên 53 tuổi, ông viết xong bộ Thái sử công thư (tức Sử ký) vĩ đại ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển của văn hoá Trung Quốc.
_ Sử ký ra đời có ý nghĩa đặc biệt trên con đường phát triển của văn hoá Trung Quốc. Trước đời Hán, Trung Quốc cũng đã có sách vở ghi chép lịch sử như các sách: Thượng thư, Xuân thu, Quốc ngữ, Chiến quốc sách, Thế bản,... Những bộ sách này không thuần túy chỉ có ý nghĩa sử học mà là loại lập ngôn mượn sự việc, vừa giản lược vừa tản mạn, lại có nhiều thiếu sót lẫn lộn giữa việc đáng tin và việc không đáng tin. Đến đầu đời Hán, sử học Trung Quốc tiến vào giai đoạn tự giác, khiến sử học trở thành môn học độc lập uyên bác, vì vậy ông được gọi là "tổ sư khai sơn của loại học vấn này". Tư Mã Thiên viết Sử ký, tường thuật lại sự phát triển của dân tộc Trung Quốc từ đầu đến đời Hán, ông dùng nhân vật làm trung tâm, dùng những sự kiện lịch sử quan trọng làm mối, đồng thời ông còn chia ra từng môn loại ghi chép khái quát sự phát triển đủ mọi loại chế độ xã hội từ đời Hoàng đế đến đời Hán Võ đế về đủ mọi phương diện thiên văn, địa lý, pháp luật, kinh tế,... không gì ông không đề cập tới. Vì vậy, bộ này còn là bức tranh toàn diện về lịhc sử xã hội Trung Quốc. Trong phần "kỷ truyện" ghi chép nhân vật là trung tâm, Tư Mã Thiên không chỉ chép về đế vương mà còn chép cả những anh hùng thất bại, không chỉ chép về các nhà quý tộc thế gia, mà còn chép cả về các thủ lãnh bị gọi là "phản loạn", ông chép từ truyện quan liêu cho đến các văn học gia kiệt xuất, triết học gia, khoa học gia, đến cả các địa chủ nổi tiếng, các thương nhân, đến tận cả các giai tầng lưu lãng trong xã hội như du hiệp,... Cơ hồ ông chú ý đến mọi giai tầng trong xã hội với ngòi bút miêu tả sinh động. Nhờ đó, Sử ký trở thành "bộ xã hội sử quy mô đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc". Sự ra đời của nó mở đầu cho công tác viết sử xã hội ở Trung Quốc.
_ Tư Mã Thiên vì xã hội viết sử, thể hiện tư tưởng và hành vi của quốc dân, ông cũng là ông tổ của phương pháp biên soạn lịch sử theo thể loại "Kỷ truyện". Từ đó về sau, sử gia Trung Quốc trong hơn hai ngàn năm đều coi thể "Kỷ truyện" là phương pháp chính tông trong sử học. Cho đến ngày nay, phẩm cách và tác phẩm vĩ đại của Tư Mã Thiên vẫn là đỉnh cao của sử học Trung Quốc.t
__________________
Lương Anh Quang @ 13:13 26/07/2009
Số lượt xem: 1456
Số lượt thích:
0 người
 
- TRƯƠNG KHIÊN (26/07/09)
- HÁN VÕ ĐẾ (26/07/09)
- ĐỔNG TRỌNG THƯ (26/07/09)
- THÚC TÔN THÔNG (26/07/09)
- TRẦN THẮNG (26/07/09)
Các ý kiến mới nhất