Chào mừng quý vị đến với Violet Và Những Người Bạn.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa thế giới >
_ Trong tâm lý, hành vi, tính cách người Trung Quốc văn hoá, sự thật là tinh thần Khổng Mạnh làm chủ hay là khí chất Lão Trang làm chủ, e rằng hiện nay khó mà phân biệt rõ ràng được. Khổng Mạnh và Lão Trang, có thể nói là hai toà núi sừng sững cao như nhau trong văn hoá Trung Quốc. Khi kẻ sĩ ngồi trong triều đình có thể họ cho Khổng Mạnh là mẫu mực, là diêu pháp cho họ xử thế ở đời.
_ Trang Chu sống trong thời Chiến Quốc luôn luôn biến động, ông là nhân vật có tư tưởng đặc biệt trước thời Tần, ông lại là triết học gia có kiến giải rộng lớn, biện luận tinh tế đứng hẳn một cõi riêng. Văn chương tài hoa của ông phóng túng với trí tuệ siêu quần, hàm chứa nhiều ý vị văn học cung cấp cho văn học sử Trung Quốc và đời sau đóa hoa màu sắc kì lạ. (Nam Hoa Kinh - Trang Tử)
_ Trang Chu tư tưởng học phái của ông tập trung trong bộ Trang Tử ra đời từ giữa cuối thời Chiến Quốc đến khoảng thời Tần, Hán trong vòng hơn trăm năm tạo thành ma lực hấo dẫn lưu truyền tới ngày nay. Tinh thần tuyệt đối của Trang "trên thì ngao du cùng người tạo ra vạn vật, dưới thì làm bạn với sinh tử không đầu không cuối". Triết học nhân sinh của Trang Tử tìm tới là cảnh giới ngoài loài người "Bậc chí nhân không có thân mình, bậc thần nhân không có công trạng, bậc thánh nhân không có tên tuổi" (Chí nhân vô kỷ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh). Thâm nhập vào cảnh giới và nhân cách "vô kỷ", "vô công", "vô danh" ấy là thoát ra khỏi sự trói buộc của ba loại quan niệm sống chết , lễ nghĩa, buồn vui. Nhân sinh triết học "sinh tử là một", "có thể và không thể là một" của Trang Tử hoàn toàn khác với luân lý triết học "Khắc kỷ phục lễ vi Nhân" của nhà Nho, hai quan điểm ấy đối lập bổ sung cho nhau khiến phạm vi văn hoá Trung Quốc từ rất sớm đã rộng rãi đủ màu sắc với nhiều tầng lớp phức tạp. Kẻ sĩ Trugn Quốc, như nói ở trên, thường chịu cả hai ảnh hưởng văn hoá ấy chi phối tới thái độ nhân sinh.
_ Triết học nhân sinh của Trang Tử tăng cho con người một con đường kháng cự lại nghịch cảnh và trong những lúc buồn khổ. Thời kỳ Ngụy Tấn, quốc gia phân liệt, chiến loạn liên miên, xã hội đau khổ và tinh thần trống trãi đạt đến cực điểm. Tâm trạng mà Tào Tháo diễn đạt "Nhân sinh xử nhất thế, khứ nhược triêu lộ hi". (đời một kiếp con người, qua mau như sươgn tan) trở thành tâm trạng bi thảm chung cho nhiều người. Cùng lúc ấy, triết học nhân sinh của Trang Tửvới tu duy rộng rãi khoảng hoạt, ý cảnh mông lung trở thành hệ thống lý luận cao sâu khó lường khiến người ta lí giải, dung hoà được với văn hoá cổ truyền. Nam Bắc triều, rồi Tùy Đường, Tống rất nhiều kẻ sĩ lễ Phật, thíhc Phật trở thành một trào lưu, nhưng họ đều dùng những khái niệm như không hư, tịch tĩnh của Trang Tử để giảng giải các khái niệm không vô, niết bàn, viên dung của Phật, bắc một chiếc cầu nối giữa văn hoá Trung Quốc và Phật giáo ngoại lai. Nhiều tăng sĩ Phật giáo vẫn kính ngưỡng Lão Trang.
_ Thể nghiệm và tư tưởng nhân sinh của Trang học là trung tâm văn hoá tinh thần. Đời sau vì thời cuộc biến đổi nên hình thành nhiều loại hình khác nhau. Đại khái như các loại môn phái thần tiên đạo thuật. Họ đọc và học theo những chữ như "Tâm trai", "Toạ vọng", trong thiên Dưỡng sinh chủ rồi vận dụng vào tu luyện thuật trường sinh cầu mong lên tới cõi tiên. Loại thần tiên đạo thuật này ít nhiều có quan hệ với khí công và y thuật Trugn Quốc, phần nào chúng thúc đẩy khoa học cổ đại Trung Quốc tới bước tiến mới. Hai là loại cũng theo tư tưởng Trang Tử phản đối Nho học, tiêu diêu ngoài đời như bọn Kê Khang, Nguyễn Tịch, chính loại này mới làm cho Trang học lưu lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong văn hoá sử Trung Quốc, trong số họ nhiều người chân thực kế thừa và thực hiện Trang học. Tuy họ có những chỗ khác với Trang nhưng về đại thể, chính họ xiển dương quan niệm sống của Trang như trong bài "đại nhân tiên sinh truyện" nổi tiếng, Nguyễn Tịch viết: "Ôi, Đại nhân là người đồng một thể với tạo vật, cùng sinh ra với trời đất, tiêu dao nơi phù thế, hoàn thành cùng đạo, biến hóa tụ tán không có hình thể nhất định". Loại "đại nhân" như vậy hết sức giống với loại "chân nhân" của Trang. Ba là loại dị đoan, loại người dị đoan này kế thừa nhữg quan niệm dị đoan khác thường trong tư tưởng của Trang, tập trung thể hiện ở những quan niệm "phi quân", "vô quân" (không cần có vua) rồi phát triển thêm, tư tưởng của loại này nhiều chỗ giống với thần linh, ca ngợi xã hội không có vua, phê bình trào lọng quan niệm của Nho gia và học phái của nhà Nho, tỏ thái độ không hợp tác với giai cấp đang thống trị, cổ xúy cái gọi là "vô dụng chi dụng" (dùng ở chỗ không dùng) và "vô hình chi hình" (hình của cái không hình), lấy đó trốn thoát khỏi áp chế của hiện thực xã hội. Chính ở ý nghĩa này mà các Nho gia chính thống đời sau coi sách của Trang như một loại cấm thư. Ở Trung Quốc cổ đại, bọn người như Bão Kính Ngôn, Đặng Mục, Vô Năng tử là thuộc loại người dị đona này. Bốn là loại người thuận theo thời thê, loại người này khôgn hấp thu mặt lìa bỏ cuộc đời, vượt qua cuộc đời của Trang mà chỉ áp dụng quan niệm "thuận theo thời thế" của Trang. Họ đem những luân thường của Nho gia sáp nhập và Đạo tự nhiên của Trang rồi khẳng định sự tồn tại của xã hội với luân thường đạo lý hiện có cùng những trật tự hợp lý của nó, họ cho rằng nên phục tùng cuộc đời, thuận theo hoàn cảnh, tùy thời mà an. Quách Tượng khi chú giải sách Trang tử đại thể là triển khai trong ý nghĩa này mà mục tiêu vẫn là "làm sáng đạo nội thánh ngoại vương". Năm là loại người lợi dụng Trang để để đi vào tôn giáo, giải thíhc tôn giáo. Loại người này đa số là các nhà tôn giáo, lợi dụng tư tưởng tư biện và quan niệm hình như thượng của Trang để luận thuật tông giáo của mình. Đạo giáo trứoc tiên hấp thu tư tưởng của "Lão Tử" rồi đem nó biến hóa thành tông giáo hoá, bắt đầu từ thời Nam Bắc triều, nhất là từ đời Đường trở về sau, họ lại hấp thu phần lớn tư tưởng của Trang. Thời Đường Huyền Tông xuống chiếu phong hiệu cho Trang Tử là "Nam Hoa chân nhân", đổi tên sách Trang Tử là Nam Hoa kinh, Đạo giáo đạt tới sự phát triển hoàn bị. Các nhà Phật giáo thời Nam Bắc triều và Tùy Đường hấp thu phần lớn tư tưởng của Trang, dùng phạm trù, khái niệm của Trang giải thích Phật học và gọi sách của Trang là ngoại thư, còn gọi kinh phật là nội điển, dùng ngoại thư giải thích nội điển. Bản thân Trang học phức tạp đa dạng vô cùng có lợi cho nhưng kẻ hậu học tự thái nạp cho yêu cầu riêng của mình nên mỗi loại học phái hấp thu Trang học theo một khía cạnh khác nhau. Tư tưởng của Trang cống hiến cho lịhc sử văn hoá không hoàn toàn là ánh sáng mà có cả phần tối tạo ảnh hưởng tiêu cực cho văn hoá Trung Quốc. Tư tưởng yếm thế trốn đời của ôgn dẫn dụ người ta trốn tránh hiện thực, tráhn xa ý thức cạnh tranh. Đối với người có chí tiến thủ thì tư tưởng của Trang kéo người ta lùi lại.t
Lương Anh Quang @ 13:01 26/07/2009
Số lượt xem: 1672
TRANG TỬ
TRANG TỬ
(Sinh năm 369 - Mất năm 295 trước Công nguyên)
(Sinh năm 369 - Mất năm 295 trước Công nguyên)
_ Trong tâm lý, hành vi, tính cách người Trung Quốc văn hoá, sự thật là tinh thần Khổng Mạnh làm chủ hay là khí chất Lão Trang làm chủ, e rằng hiện nay khó mà phân biệt rõ ràng được. Khổng Mạnh và Lão Trang, có thể nói là hai toà núi sừng sững cao như nhau trong văn hoá Trung Quốc. Khi kẻ sĩ ngồi trong triều đình có thể họ cho Khổng Mạnh là mẫu mực, là diêu pháp cho họ xử thế ở đời.
_ Trang Chu sống trong thời Chiến Quốc luôn luôn biến động, ông là nhân vật có tư tưởng đặc biệt trước thời Tần, ông lại là triết học gia có kiến giải rộng lớn, biện luận tinh tế đứng hẳn một cõi riêng. Văn chương tài hoa của ông phóng túng với trí tuệ siêu quần, hàm chứa nhiều ý vị văn học cung cấp cho văn học sử Trung Quốc và đời sau đóa hoa màu sắc kì lạ. (Nam Hoa Kinh - Trang Tử)
_ Trang Chu tư tưởng học phái của ông tập trung trong bộ Trang Tử ra đời từ giữa cuối thời Chiến Quốc đến khoảng thời Tần, Hán trong vòng hơn trăm năm tạo thành ma lực hấo dẫn lưu truyền tới ngày nay. Tinh thần tuyệt đối của Trang "trên thì ngao du cùng người tạo ra vạn vật, dưới thì làm bạn với sinh tử không đầu không cuối". Triết học nhân sinh của Trang Tử tìm tới là cảnh giới ngoài loài người "Bậc chí nhân không có thân mình, bậc thần nhân không có công trạng, bậc thánh nhân không có tên tuổi" (Chí nhân vô kỷ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh). Thâm nhập vào cảnh giới và nhân cách "vô kỷ", "vô công", "vô danh" ấy là thoát ra khỏi sự trói buộc của ba loại quan niệm sống chết , lễ nghĩa, buồn vui. Nhân sinh triết học "sinh tử là một", "có thể và không thể là một" của Trang Tử hoàn toàn khác với luân lý triết học "Khắc kỷ phục lễ vi Nhân" của nhà Nho, hai quan điểm ấy đối lập bổ sung cho nhau khiến phạm vi văn hoá Trung Quốc từ rất sớm đã rộng rãi đủ màu sắc với nhiều tầng lớp phức tạp. Kẻ sĩ Trugn Quốc, như nói ở trên, thường chịu cả hai ảnh hưởng văn hoá ấy chi phối tới thái độ nhân sinh.
_ Triết học nhân sinh của Trang Tử tăng cho con người một con đường kháng cự lại nghịch cảnh và trong những lúc buồn khổ. Thời kỳ Ngụy Tấn, quốc gia phân liệt, chiến loạn liên miên, xã hội đau khổ và tinh thần trống trãi đạt đến cực điểm. Tâm trạng mà Tào Tháo diễn đạt "Nhân sinh xử nhất thế, khứ nhược triêu lộ hi". (đời một kiếp con người, qua mau như sươgn tan) trở thành tâm trạng bi thảm chung cho nhiều người. Cùng lúc ấy, triết học nhân sinh của Trang Tửvới tu duy rộng rãi khoảng hoạt, ý cảnh mông lung trở thành hệ thống lý luận cao sâu khó lường khiến người ta lí giải, dung hoà được với văn hoá cổ truyền. Nam Bắc triều, rồi Tùy Đường, Tống rất nhiều kẻ sĩ lễ Phật, thíhc Phật trở thành một trào lưu, nhưng họ đều dùng những khái niệm như không hư, tịch tĩnh của Trang Tử để giảng giải các khái niệm không vô, niết bàn, viên dung của Phật, bắc một chiếc cầu nối giữa văn hoá Trung Quốc và Phật giáo ngoại lai. Nhiều tăng sĩ Phật giáo vẫn kính ngưỡng Lão Trang.
_ Thể nghiệm và tư tưởng nhân sinh của Trang học là trung tâm văn hoá tinh thần. Đời sau vì thời cuộc biến đổi nên hình thành nhiều loại hình khác nhau. Đại khái như các loại môn phái thần tiên đạo thuật. Họ đọc và học theo những chữ như "Tâm trai", "Toạ vọng", trong thiên Dưỡng sinh chủ rồi vận dụng vào tu luyện thuật trường sinh cầu mong lên tới cõi tiên. Loại thần tiên đạo thuật này ít nhiều có quan hệ với khí công và y thuật Trugn Quốc, phần nào chúng thúc đẩy khoa học cổ đại Trung Quốc tới bước tiến mới. Hai là loại cũng theo tư tưởng Trang Tử phản đối Nho học, tiêu diêu ngoài đời như bọn Kê Khang, Nguyễn Tịch, chính loại này mới làm cho Trang học lưu lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong văn hoá sử Trung Quốc, trong số họ nhiều người chân thực kế thừa và thực hiện Trang học. Tuy họ có những chỗ khác với Trang nhưng về đại thể, chính họ xiển dương quan niệm sống của Trang như trong bài "đại nhân tiên sinh truyện" nổi tiếng, Nguyễn Tịch viết: "Ôi, Đại nhân là người đồng một thể với tạo vật, cùng sinh ra với trời đất, tiêu dao nơi phù thế, hoàn thành cùng đạo, biến hóa tụ tán không có hình thể nhất định". Loại "đại nhân" như vậy hết sức giống với loại "chân nhân" của Trang. Ba là loại dị đoan, loại người dị đoan này kế thừa nhữg quan niệm dị đoan khác thường trong tư tưởng của Trang, tập trung thể hiện ở những quan niệm "phi quân", "vô quân" (không cần có vua) rồi phát triển thêm, tư tưởng của loại này nhiều chỗ giống với thần linh, ca ngợi xã hội không có vua, phê bình trào lọng quan niệm của Nho gia và học phái của nhà Nho, tỏ thái độ không hợp tác với giai cấp đang thống trị, cổ xúy cái gọi là "vô dụng chi dụng" (dùng ở chỗ không dùng) và "vô hình chi hình" (hình của cái không hình), lấy đó trốn thoát khỏi áp chế của hiện thực xã hội. Chính ở ý nghĩa này mà các Nho gia chính thống đời sau coi sách của Trang như một loại cấm thư. Ở Trung Quốc cổ đại, bọn người như Bão Kính Ngôn, Đặng Mục, Vô Năng tử là thuộc loại người dị đona này. Bốn là loại người thuận theo thời thê, loại người này khôgn hấp thu mặt lìa bỏ cuộc đời, vượt qua cuộc đời của Trang mà chỉ áp dụng quan niệm "thuận theo thời thế" của Trang. Họ đem những luân thường của Nho gia sáp nhập và Đạo tự nhiên của Trang rồi khẳng định sự tồn tại của xã hội với luân thường đạo lý hiện có cùng những trật tự hợp lý của nó, họ cho rằng nên phục tùng cuộc đời, thuận theo hoàn cảnh, tùy thời mà an. Quách Tượng khi chú giải sách Trang tử đại thể là triển khai trong ý nghĩa này mà mục tiêu vẫn là "làm sáng đạo nội thánh ngoại vương". Năm là loại người lợi dụng Trang để để đi vào tôn giáo, giải thíhc tôn giáo. Loại người này đa số là các nhà tôn giáo, lợi dụng tư tưởng tư biện và quan niệm hình như thượng của Trang để luận thuật tông giáo của mình. Đạo giáo trứoc tiên hấp thu tư tưởng của "Lão Tử" rồi đem nó biến hóa thành tông giáo hoá, bắt đầu từ thời Nam Bắc triều, nhất là từ đời Đường trở về sau, họ lại hấp thu phần lớn tư tưởng của Trang. Thời Đường Huyền Tông xuống chiếu phong hiệu cho Trang Tử là "Nam Hoa chân nhân", đổi tên sách Trang Tử là Nam Hoa kinh, Đạo giáo đạt tới sự phát triển hoàn bị. Các nhà Phật giáo thời Nam Bắc triều và Tùy Đường hấp thu phần lớn tư tưởng của Trang, dùng phạm trù, khái niệm của Trang giải thích Phật học và gọi sách của Trang là ngoại thư, còn gọi kinh phật là nội điển, dùng ngoại thư giải thích nội điển. Bản thân Trang học phức tạp đa dạng vô cùng có lợi cho nhưng kẻ hậu học tự thái nạp cho yêu cầu riêng của mình nên mỗi loại học phái hấp thu Trang học theo một khía cạnh khác nhau. Tư tưởng của Trang cống hiến cho lịhc sử văn hoá không hoàn toàn là ánh sáng mà có cả phần tối tạo ảnh hưởng tiêu cực cho văn hoá Trung Quốc. Tư tưởng yếm thế trốn đời của ôgn dẫn dụ người ta trốn tránh hiện thực, tráhn xa ý thức cạnh tranh. Đối với người có chí tiến thủ thì tư tưởng của Trang kéo người ta lùi lại.t
Lương Anh Quang @ 13:01 26/07/2009
Số lượt xem: 1672
Số lượt thích:
0 người
 
- MẠNH TỬ (26/07/09)
- THƯƠNG ƯỞNG (26/07/09)
- MẶC TỬ (26/07/09)
- TÔN VÕ (26/07/09)
- KHỔNG TỬ (26/07/09)
Các ý kiến mới nhất