Chào mừng quý vị đến với Violet Và Những Người Bạn.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa thế giới >
_ Cuối thế kỷ 19, nhà th sĩ duy tân Đàm Tự Đồng khi phản tỉnh về văn hóa truyền thống Trung Quốc đã đưa ra lời luận định quan trọng: "Hai ngàn năm nay, học thuật của chúng ta là Tuân học vậy". Người sáng lập ra Tuân học là Tuân Huống.
_ Trong học thuật sử Trung Quốc, Tuân Tử là nhân vật trọng đại từ Tiên Tần tới đời Hán, ông trên thì kế thừa Khổng Mạnh, dưới thì tiếp nối Kinh Dịch, sách Trung Dung kết hợp cả bách gia chư tử nên có địa vị hết sức trọng yếu.
_ Xét về mặt tư tưởng, Tuân tử chú ý tới chính sự, chuyên tâm vào "đại nhất thống". Ông cố công tước bỏ những khuyết điểm của bách gia, tiếp nhận sở trường của mọi nhà. Từ quan điểm thiên đạo tự nhiên của Lão Tử, ông cũng diễn thành tư tưởng "chế thiên mệnh nhi dụng chi" (khống chế mệnh trời mà dùng vào đời). Từ quan điểm nhận thức luận và tư tưởng lô-gic của Mặc Tử, ông biến thành lý luận kỹ thuật biện luận của mình. Từ Pháp gia ông hấp thu tư tưởng pháp trị, trộn lẫn vào lý luận Nho gia, đề xướng tư tưởng hợp dụng lễ và pháp, ông phê phán tính thiên luận của Nho gia. Xuất phát từ thuộc tính tự nhiên của con người, ông đề xuất tính ác luận bổ sung cho học thuyết của Mạnh tử. Từ chỗ tập hợp các sở trường nhiều học phái, Tuân tử giống như Nho mà không phải Nho, giống như Mặc mà không phải Mặc. Hệ thống tư tưởng của ông từ nhiều phương diện khác nhau phát sinh ảnh hưởng sâu sắc đến hậu thế.
_ Tư tưởng của Tuân tử đặt cơ sở cho trật tự phong kiến và khai sáng nên sự phân chia đẳng cấp nghiêm mật. Hai học trò của ông -Hàn Phi và Lý Tư- trong thời Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước, là hai nhân vật quan trọng kiến lập chế độ quân chủ chuyên chế. Tư tưởng thực tiễn của Tuân tử đã đưa ông lên như một người khai sáng ra nền tảng chính trị bằng "hình chính" (chính thể cai trị bằng hình luật) và "pháp trị" (cai trị bằng pháp luật), từ đó tạo ảnh hưởng sâu đậm đến chính trị văn hoá hậu thế.
_ Tuân tử đưa quan niệm tích cực lạc quan của Nho gia lên đến cảnh giới cực cao "dữ thiên địa tham" (cùng tham dự với trời đất), từ đó đưa đạo đức luận của Khổng Mạnh bước qua thời kỳ quá độ đến tư tưởng Kinh Dịch và Trung Dung, lại đến vũ trụ luận đời Hán, cung cấp một mắc xích không đứt đoạn trong tiến trình của đạo Nho. Thực tế Tuân tử đã chuẩn bị cho hệ thống tư tưởng "Thiên nhân cảm ứng" (trời với người cùng cảm ứng với nhau) ở đời Hán như một học giả khẳng định trong bộ Trung Quốc cổ đại tư tưởng sử luận rằng: "Không có Tuân tử là không có Hán nho, không có Hán nho thì khó tưởng tượng xã hội Trung Quốc sẽ ra sao".
_ Tuân tử là một lý luận tư tưởng gia thực dụng. Mệnh đề quan trọng "chế thiên mệnh nhi dụng chi" của ông đưa ra xác lập ý tưởng con người có thể làm chúa tể trời đất ngang hàng với trời đất chứ không can dự gì ý chí của bất cứ vị thần nào. Nếu cho Mạnh tử phát huy phần "nội thánh" của Khổng học thì Tuân tử là người kế thừa phần "ngoại vương" của Khổng học mà những người kế thừa ông sau này có Trần Lượng, Diệp Thích đời Nam Tống, Cố Viêm Võ, Hoàng Tông Hi, Cung Tự Trân, Ngụy Nguyên đời Minh, Thanh. Xét về mặt khác, Tuân tử phản đối tất cả nhnữg quan niệm mê tín siêu kinh nghiệm có tác dụng chống đối rất lớn trong lịch sử triết học Trung Quốc, hình thành ảnh hưởng không thể xem thường.
_ Tuân tử thu nhận môn đồ rất rộng và chuyên cần vào việc trứ tác, ông lập môn phái dạy học. Ông chính là bậc tông sư ngành Kinh học từ Hán trở về sau như Quách Mạt Nhược nhận định: "Người Hán lưu truyền Thi, Thư, Dịch, Lễ cho đến Xuân Thu đều có hệ thống truyền thụ như nhau, Vô luận trực tiếp hay gián tiếp, hầu như đều có quan hệ với Tuân tử". Ảnh hưởng về học thuật như thế hiển nhiên là sâu đậm.
_ Trong đời Hán, Tuân tử được ca ngợi rất cao, quốc sách "đạo bá vương" của các kẻ thống trị đời Hán, xét về nguồn gốc đã không phải là tư tưởng Khổng Mạnh, cũng chẳng phải tư tưởng Lão Trang mà chính là tư tưởng dung nạp nhiều học thuyết của Tuân tử. Thuật "Văn võ kiêm dụng" của Lục Giả có thể nói là phiên bản của tư tưởng "hình thưởng tính tế" (hình phạt và khen thưởng cùng áp dụng) của Tuân tử, chủ trương "Quân giả bất thất kỳ quân giả" (bậc vua là người không làm mất đám đông) của Đổng Trọng Thư chính là xuất phát từ tưởng "Quân giả, thiện quần dã" (bậc vua là người giỏi quy tụ đám đông) của Tuân tử. Ảnh hưởng của Tuân tử sâu sắc tới tư tưởng chính trị, hoch thuật đời Hán.
_ Từ thời Tam Quốc, Nam Bắc triều cho đến đời Tùy đời Đường, Tuân tử luôn luôn được tán dương. Trong văn chương đời Đường, Tuân tử luôn luôn xuất hiện, thậm chí có người còn cho ông là "Kẻ sĩ danh tướng ở đời, sư phụ của các bậc vương giả". Họ đề cao sách Tuân tử và nhiều người chú giải bình luận sách ấy. Chính đời Đường đã chia bản cũ sách Tuân tử ra làm 20 thiên trở thành bản Tuân tử lưu hành đến ngày nay.
_ Từ khi có Lý học đời Tống, Minh, Tuân tử và Tuân học bắt đầu xuống dốc. Các Lý học gia đời Tống Minh cho rằng Chu Hi, Vương Dương Minh là kế thừa trực tiếp tư tưởng Khổng Mạnh và nhận ra rằng đây mới chính là dòng chủ lưu chính thống của tư tưởng triết học Trung Quốc, họ cực lực đả kích Tuân tử và Tuân học. Đến đời Thanh, Tống học suy vi, Tuân học lại được phục hưng tôn trọng. Các học giả đua nhau tìm hiểu Tuân học qua các sách Tuân tử tập giải của Vương Tiên Khiêm, Tuân tử bổ chú của Hách Ý,... hay như đại học giả Lương Khải Siêu quả quyết: "Từ Tần Hán về sau, chính trị, học thuật đều có nguồn gốc từ Tuân tử".t
Lương Anh Quang @ 13:04 26/07/2009
Số lượt xem: 1551
TUÂN KHANH
TUÂN KHANH
(Sinh năm 315 - mất năm 217 trước Công nguyên)
(Sinh năm 315 - mất năm 217 trước Công nguyên)
_ Cuối thế kỷ 19, nhà th sĩ duy tân Đàm Tự Đồng khi phản tỉnh về văn hóa truyền thống Trung Quốc đã đưa ra lời luận định quan trọng: "Hai ngàn năm nay, học thuật của chúng ta là Tuân học vậy". Người sáng lập ra Tuân học là Tuân Huống.
_ Trong học thuật sử Trung Quốc, Tuân Tử là nhân vật trọng đại từ Tiên Tần tới đời Hán, ông trên thì kế thừa Khổng Mạnh, dưới thì tiếp nối Kinh Dịch, sách Trung Dung kết hợp cả bách gia chư tử nên có địa vị hết sức trọng yếu.
_ Xét về mặt tư tưởng, Tuân tử chú ý tới chính sự, chuyên tâm vào "đại nhất thống". Ông cố công tước bỏ những khuyết điểm của bách gia, tiếp nhận sở trường của mọi nhà. Từ quan điểm thiên đạo tự nhiên của Lão Tử, ông cũng diễn thành tư tưởng "chế thiên mệnh nhi dụng chi" (khống chế mệnh trời mà dùng vào đời). Từ quan điểm nhận thức luận và tư tưởng lô-gic của Mặc Tử, ông biến thành lý luận kỹ thuật biện luận của mình. Từ Pháp gia ông hấp thu tư tưởng pháp trị, trộn lẫn vào lý luận Nho gia, đề xướng tư tưởng hợp dụng lễ và pháp, ông phê phán tính thiên luận của Nho gia. Xuất phát từ thuộc tính tự nhiên của con người, ông đề xuất tính ác luận bổ sung cho học thuyết của Mạnh tử. Từ chỗ tập hợp các sở trường nhiều học phái, Tuân tử giống như Nho mà không phải Nho, giống như Mặc mà không phải Mặc. Hệ thống tư tưởng của ông từ nhiều phương diện khác nhau phát sinh ảnh hưởng sâu sắc đến hậu thế.
_ Tư tưởng của Tuân tử đặt cơ sở cho trật tự phong kiến và khai sáng nên sự phân chia đẳng cấp nghiêm mật. Hai học trò của ông -Hàn Phi và Lý Tư- trong thời Tần Thủy Hoàng thống nhất sáu nước, là hai nhân vật quan trọng kiến lập chế độ quân chủ chuyên chế. Tư tưởng thực tiễn của Tuân tử đã đưa ông lên như một người khai sáng ra nền tảng chính trị bằng "hình chính" (chính thể cai trị bằng hình luật) và "pháp trị" (cai trị bằng pháp luật), từ đó tạo ảnh hưởng sâu đậm đến chính trị văn hoá hậu thế.
_ Tuân tử đưa quan niệm tích cực lạc quan của Nho gia lên đến cảnh giới cực cao "dữ thiên địa tham" (cùng tham dự với trời đất), từ đó đưa đạo đức luận của Khổng Mạnh bước qua thời kỳ quá độ đến tư tưởng Kinh Dịch và Trung Dung, lại đến vũ trụ luận đời Hán, cung cấp một mắc xích không đứt đoạn trong tiến trình của đạo Nho. Thực tế Tuân tử đã chuẩn bị cho hệ thống tư tưởng "Thiên nhân cảm ứng" (trời với người cùng cảm ứng với nhau) ở đời Hán như một học giả khẳng định trong bộ Trung Quốc cổ đại tư tưởng sử luận rằng: "Không có Tuân tử là không có Hán nho, không có Hán nho thì khó tưởng tượng xã hội Trung Quốc sẽ ra sao".
_ Tuân tử là một lý luận tư tưởng gia thực dụng. Mệnh đề quan trọng "chế thiên mệnh nhi dụng chi" của ông đưa ra xác lập ý tưởng con người có thể làm chúa tể trời đất ngang hàng với trời đất chứ không can dự gì ý chí của bất cứ vị thần nào. Nếu cho Mạnh tử phát huy phần "nội thánh" của Khổng học thì Tuân tử là người kế thừa phần "ngoại vương" của Khổng học mà những người kế thừa ông sau này có Trần Lượng, Diệp Thích đời Nam Tống, Cố Viêm Võ, Hoàng Tông Hi, Cung Tự Trân, Ngụy Nguyên đời Minh, Thanh. Xét về mặt khác, Tuân tử phản đối tất cả nhnữg quan niệm mê tín siêu kinh nghiệm có tác dụng chống đối rất lớn trong lịch sử triết học Trung Quốc, hình thành ảnh hưởng không thể xem thường.
_ Tuân tử thu nhận môn đồ rất rộng và chuyên cần vào việc trứ tác, ông lập môn phái dạy học. Ông chính là bậc tông sư ngành Kinh học từ Hán trở về sau như Quách Mạt Nhược nhận định: "Người Hán lưu truyền Thi, Thư, Dịch, Lễ cho đến Xuân Thu đều có hệ thống truyền thụ như nhau, Vô luận trực tiếp hay gián tiếp, hầu như đều có quan hệ với Tuân tử". Ảnh hưởng về học thuật như thế hiển nhiên là sâu đậm.
_ Trong đời Hán, Tuân tử được ca ngợi rất cao, quốc sách "đạo bá vương" của các kẻ thống trị đời Hán, xét về nguồn gốc đã không phải là tư tưởng Khổng Mạnh, cũng chẳng phải tư tưởng Lão Trang mà chính là tư tưởng dung nạp nhiều học thuyết của Tuân tử. Thuật "Văn võ kiêm dụng" của Lục Giả có thể nói là phiên bản của tư tưởng "hình thưởng tính tế" (hình phạt và khen thưởng cùng áp dụng) của Tuân tử, chủ trương "Quân giả bất thất kỳ quân giả" (bậc vua là người không làm mất đám đông) của Đổng Trọng Thư chính là xuất phát từ tưởng "Quân giả, thiện quần dã" (bậc vua là người giỏi quy tụ đám đông) của Tuân tử. Ảnh hưởng của Tuân tử sâu sắc tới tư tưởng chính trị, hoch thuật đời Hán.
_ Từ thời Tam Quốc, Nam Bắc triều cho đến đời Tùy đời Đường, Tuân tử luôn luôn được tán dương. Trong văn chương đời Đường, Tuân tử luôn luôn xuất hiện, thậm chí có người còn cho ông là "Kẻ sĩ danh tướng ở đời, sư phụ của các bậc vương giả". Họ đề cao sách Tuân tử và nhiều người chú giải bình luận sách ấy. Chính đời Đường đã chia bản cũ sách Tuân tử ra làm 20 thiên trở thành bản Tuân tử lưu hành đến ngày nay.
_ Từ khi có Lý học đời Tống, Minh, Tuân tử và Tuân học bắt đầu xuống dốc. Các Lý học gia đời Tống Minh cho rằng Chu Hi, Vương Dương Minh là kế thừa trực tiếp tư tưởng Khổng Mạnh và nhận ra rằng đây mới chính là dòng chủ lưu chính thống của tư tưởng triết học Trung Quốc, họ cực lực đả kích Tuân tử và Tuân học. Đến đời Thanh, Tống học suy vi, Tuân học lại được phục hưng tôn trọng. Các học giả đua nhau tìm hiểu Tuân học qua các sách Tuân tử tập giải của Vương Tiên Khiêm, Tuân tử bổ chú của Hách Ý,... hay như đại học giả Lương Khải Siêu quả quyết: "Từ Tần Hán về sau, chính trị, học thuật đều có nguồn gốc từ Tuân tử".t
Lương Anh Quang @ 13:04 26/07/2009
Số lượt xem: 1551
Số lượt thích:
0 người
 
- KHUẤT NGUYÊN (26/07/09)
- TRANG TỬ (26/07/09)
- MẠNH TỬ (26/07/09)
- THƯƠNG ƯỞNG (26/07/09)
- MẶC TỬ (26/07/09)
Các ý kiến mới nhất