Chào mừng quý vị đến với Violet Và Những Người Bạn.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa thế giới >
_ Là một "Á thánh" trong tâm trí người Trung Quốc, địa vị Mạnh Kha chỉ dưới một người là "chí thánh thiền sư" Khổng Khâu, ông là người kế thừa có ảnh hưởng lớn nhất sau Khổng Tử và là người có quyền uy nhất trong sự nghiệp giảng dạy lưu truyền Khổng học, người đời sau thường gọi chung học thuyết của hai người là đạo Khổng Mạnh. Mạnh Kha, cũng gọi là Mạnh Tử, người huyện Trâu, tỉnh Sơn Đông ngày nay, sống vào giữa thời Chiến Quốc sau khi Khổng Tử chết đã 100 năm, tư tưởng của ông rất gần với tư tưởng của Khổng Tử mà cuộc đời trôi nổi của ông cũng có nhiều điểm giống Khổng Tử. Mạnh Tử theo học Tử Tư (cháu Khổng Tử) kế thừa Khổng Tử. Bất luận quan điểm nào như làm quan hay ở ẩn về chính trị, vương đạo chính về tư tưởng, trung hiếu về đạo đức, sát thân thành nhân về nhân cách hay chính nhân tâm về học thuật, phản đối tà thuyết, Mạnh Tử đều noi theo Khổng Tử, ngưỡng mộ Khổng Tử, hơn thế, ông còn phát huy lớn rộng Khổng học.
_ Thu nhận đồ đệ dạy học và chu du các nước, chiếm hết phần lớn thì giờ trong cuộc đời của Mạnh Tử. Công việc trước có chút ít thành công "thu được nhiều tài năng trong thiên hạ để dạy họ", ông bồi dưỡng một số lớn Nho gia học giả, công việc sau khiến Mạnh Tử phải bôn ba các nước Trâu, Lỗ, Tề, Tống, Đằng, Ngụy, tuy lao khổ mà chẳng được cán gì ngoài truyền bá vương đạo của Nho học.
_ Tư tưởng của Mạnh Tử được lưu truyền nhờ bộ Mạnh Tử do các học trò của ông cùng biên soạn. Từ đời Hán, Mạnh Tử cũng được liệt vào các sách chư tử. Đời Đường, tể tướng Dương Quán xin đưa Mạnh Tử vào loại kinh điển, sau này sách ấy được Hàn Dũ tôn sùng, Mạnh Tử và tư tưởng của ông mới được những kẻ thống trị và sĩ đại phu chú ý thưởng thức. Đại Nho Nam Tống là Chu Hi khi sắp đặt Tứ thư đã đưa Mạnh Tử vào, từ đó Mạnh Tử trở thành thánh nhân thứ nhì (sau Khổng Tử). Tiếng tôn xưng "Đạo Khổng Mạnh" cũng bắt đầu có từ đây.
_ Nếu như nói ảnh hưởng của Khổng Khâu phổ biến trong mọi lãnh vực với văn hoá cổ đại Trung Quốc thì ảnh hưởng về văn hoá của Mạnh Tử có tập trung hơn nhất là về các học thuyết tâm tính, tư tưởng lấy dân làm gốc và lý luận giáo dục.
_ Học thuyết tâm tính của Mạnh Tử "Tính của người quân tử là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí có gốc ở Tâm" tuy kế thừa trực tiếp ở Khổng Tử nhnưg vẫn có phần khác Khổng Tử. Cái học về tâm tính của Khổng nhấn mạnh tới Đức tiên thiên chưa đủ, cần phải học Lễ, Thi chuyên cần cầu học. Còn Mạnh Tử cho rằng chỉ cần Nhân ở tự thân không cần cầu học gì ở ngoài nữa, chỉ cần hướng nội truy tìm tới cái "Xích tử chi tâm" (tâm của trẻ hài đồng). Hai tư tưởng học Lễ bên ngoài và quay về học trong Tâm bản thân sẽ đưa tới nhiều diễn biến trong Nho học các đời sau.
_ Người đầu tiên công kích tâm tính học của Mạnh Tử là đại tư tưởng gia Tuân Tử. Tuân Tử cho rằng bản tính con người là Ác, hành vi người ta sở dĩ thích hợp với luân lý hoàn toàn là do sự học tập sau này (gọi là hậu thiên). Luận điểm của Tuân Tử cũng có phần đặc sắc nhất là tư tưởng "ngoại vương" của ông. Đến học thuyết tâm tính của Chu Hi lại nhấn mạnh tới "cách vật trí tri" (tìm tới cái lý tận cùng của sự vật) nhưng vẫn tìm tới Đức nội tâm, vì vậy có gần với Khổng học hơn. Lục Cửu Uyên khác hẳn, ông bất mãn với học thuyết Chu Hi mà trực tiếp kế thừa Mạnh Tử, đề xướng ra có tâm ấy là có lý ấy, vạn vật đều đầy đủ trong bản thân ta, chỉ cần làm sáng cái Tâm là đủ, không cần "cách vật". Sự tranh luận của hai họ Chu (Hi) và Lục (Cửu Uyên) trong một chừng mực nào đó là kế thừa sự tách ngành tư tưởng của Khổng và Mạnh. Ba trăm năm sau, Vương Dương Minh ra đời, tiếp tục kế thừa tư tưởng bản tâm lương tri của Mạnh Tử, ca ngợi Lục (Cửu Uyên) và ức chế Chu (Hi) hoàn thành hệ thống "Tâm học" kéo dài từ thời Mạnh Tử đến Lục Cửu Uyên rồi đến họ Vương.
_ Học thuyết Tâm của ta là lý và trí lương tri tuy là bước đột phá quan trọng trên con đường tư duy, nhưng nó dẫn đến tình trạng lạ lùng "thánh nhân đầy đường" cuối đời Minh, bọn tâm tính học gia tầm thường chìm đắm vào huyền học bàn suông. Có lẽ đó là điều không ngờ của Mạnh phu tử và Lục phu tử.
_ Tâm tính học của Mạnh Tử phần nào có màu sắc Phật học của Thiền tông. Phật giáo Ấn Độ được Trung Quốc hoá, buổi ban đầu truyền giáo Phật học đã mượn nhiều thuật ngữ triết học có sẵn ở bản địa, trong ấy có khái niệm "Tâm" là khái niệm quan trọng. Nhân tâm bao gồm hết thảy, nhân tâm quyết định tất cả sự vật tồn tại và phát triển. Tâm tính luận của Thiền tông rất gần với tư tưởng "người tận kỳ tâm ắt biết tính ấy. Biết tính ấy ắt biết Trời vậy. Giữ tâm ấy, nuôi tính ấy sở dĩ đủ thờ trời".
_ Nho học đời Tống phát triển lại bị ảnh hưởng rất lớn của Phật học. Từ trong hiện tượng ấy, chúng ta có thể thấy chỉnh thể văn hoá Trung Quốc quan hệ giữa các bộ phận với nhau là hết sức phức tạp. Tư tưởng chính trị của Mạnh Tử tiến bộ ở chỗ "dân là quý, xã tắc thứ nhì, vua đáng khinh", "dân chính là gốc nước" những câu tương tự như thế từ ngàn đời đã trở thành kho tàng dang ngôn của nhân loại. Mạnh Tử còn giảng giải "hãy nuôi khí hạo nhiên trong ta" và ông đem cả đời ông làm thể nghiệm thực tiễn giữ vững chí khí hạo nhiên cương cường. Mạnh Tử tôn trọng "những người phú quý không dâm tặc, nghèo đói không thay đổi (khí tiết), uy vũ không thể khuất phục, như vậy gọi là đại trượng phu" và khí tiết đáng quý ở câu "Ôi trời chưa muốn thiên hạ bình trị đấy thôi. Nếu muốn thiên hạ bình trị thì ngày nay ngoài ta ra còn có ai ?".
_ Mục tiêu giáo dục Mạnh Tử đưa ra là "ta muốn làm chính nhân tâm, bỏ tà thuyết, bãi hành vi xấu, trừ những lời dâm để mong kế thừa ba vị thánh xưa". Các giáo dục gia cổ đại Trung Quốc đều coi đó là mục tiêu chung để mong đạt tới.
_ Ảnh hưởng của Mạnh Tử trong văn hoá Trung Quốc về nhiều phuơng diện. Một học giả nước Mỹ khẳng định: "Trên toàn thế giới chỉ có vài triết học gia là có ảnh hưởng lớn như Mạnh Tử".t
Lương Anh Quang @ 13:01 26/07/2009
Số lượt xem: 2657
MẠNH TỬ
MẠNH TỬ
(Sinh và mất khoảng từ năm 372 đến năm 289 trước Công nguyên)
(Sinh và mất khoảng từ năm 372 đến năm 289 trước Công nguyên)
_ Là một "Á thánh" trong tâm trí người Trung Quốc, địa vị Mạnh Kha chỉ dưới một người là "chí thánh thiền sư" Khổng Khâu, ông là người kế thừa có ảnh hưởng lớn nhất sau Khổng Tử và là người có quyền uy nhất trong sự nghiệp giảng dạy lưu truyền Khổng học, người đời sau thường gọi chung học thuyết của hai người là đạo Khổng Mạnh. Mạnh Kha, cũng gọi là Mạnh Tử, người huyện Trâu, tỉnh Sơn Đông ngày nay, sống vào giữa thời Chiến Quốc sau khi Khổng Tử chết đã 100 năm, tư tưởng của ông rất gần với tư tưởng của Khổng Tử mà cuộc đời trôi nổi của ông cũng có nhiều điểm giống Khổng Tử. Mạnh Tử theo học Tử Tư (cháu Khổng Tử) kế thừa Khổng Tử. Bất luận quan điểm nào như làm quan hay ở ẩn về chính trị, vương đạo chính về tư tưởng, trung hiếu về đạo đức, sát thân thành nhân về nhân cách hay chính nhân tâm về học thuật, phản đối tà thuyết, Mạnh Tử đều noi theo Khổng Tử, ngưỡng mộ Khổng Tử, hơn thế, ông còn phát huy lớn rộng Khổng học.
_ Thu nhận đồ đệ dạy học và chu du các nước, chiếm hết phần lớn thì giờ trong cuộc đời của Mạnh Tử. Công việc trước có chút ít thành công "thu được nhiều tài năng trong thiên hạ để dạy họ", ông bồi dưỡng một số lớn Nho gia học giả, công việc sau khiến Mạnh Tử phải bôn ba các nước Trâu, Lỗ, Tề, Tống, Đằng, Ngụy, tuy lao khổ mà chẳng được cán gì ngoài truyền bá vương đạo của Nho học.
_ Tư tưởng của Mạnh Tử được lưu truyền nhờ bộ Mạnh Tử do các học trò của ông cùng biên soạn. Từ đời Hán, Mạnh Tử cũng được liệt vào các sách chư tử. Đời Đường, tể tướng Dương Quán xin đưa Mạnh Tử vào loại kinh điển, sau này sách ấy được Hàn Dũ tôn sùng, Mạnh Tử và tư tưởng của ông mới được những kẻ thống trị và sĩ đại phu chú ý thưởng thức. Đại Nho Nam Tống là Chu Hi khi sắp đặt Tứ thư đã đưa Mạnh Tử vào, từ đó Mạnh Tử trở thành thánh nhân thứ nhì (sau Khổng Tử). Tiếng tôn xưng "Đạo Khổng Mạnh" cũng bắt đầu có từ đây.
_ Nếu như nói ảnh hưởng của Khổng Khâu phổ biến trong mọi lãnh vực với văn hoá cổ đại Trung Quốc thì ảnh hưởng về văn hoá của Mạnh Tử có tập trung hơn nhất là về các học thuyết tâm tính, tư tưởng lấy dân làm gốc và lý luận giáo dục.
_ Học thuyết tâm tính của Mạnh Tử "Tính của người quân tử là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí có gốc ở Tâm" tuy kế thừa trực tiếp ở Khổng Tử nhnưg vẫn có phần khác Khổng Tử. Cái học về tâm tính của Khổng nhấn mạnh tới Đức tiên thiên chưa đủ, cần phải học Lễ, Thi chuyên cần cầu học. Còn Mạnh Tử cho rằng chỉ cần Nhân ở tự thân không cần cầu học gì ở ngoài nữa, chỉ cần hướng nội truy tìm tới cái "Xích tử chi tâm" (tâm của trẻ hài đồng). Hai tư tưởng học Lễ bên ngoài và quay về học trong Tâm bản thân sẽ đưa tới nhiều diễn biến trong Nho học các đời sau.
_ Người đầu tiên công kích tâm tính học của Mạnh Tử là đại tư tưởng gia Tuân Tử. Tuân Tử cho rằng bản tính con người là Ác, hành vi người ta sở dĩ thích hợp với luân lý hoàn toàn là do sự học tập sau này (gọi là hậu thiên). Luận điểm của Tuân Tử cũng có phần đặc sắc nhất là tư tưởng "ngoại vương" của ông. Đến học thuyết tâm tính của Chu Hi lại nhấn mạnh tới "cách vật trí tri" (tìm tới cái lý tận cùng của sự vật) nhưng vẫn tìm tới Đức nội tâm, vì vậy có gần với Khổng học hơn. Lục Cửu Uyên khác hẳn, ông bất mãn với học thuyết Chu Hi mà trực tiếp kế thừa Mạnh Tử, đề xướng ra có tâm ấy là có lý ấy, vạn vật đều đầy đủ trong bản thân ta, chỉ cần làm sáng cái Tâm là đủ, không cần "cách vật". Sự tranh luận của hai họ Chu (Hi) và Lục (Cửu Uyên) trong một chừng mực nào đó là kế thừa sự tách ngành tư tưởng của Khổng và Mạnh. Ba trăm năm sau, Vương Dương Minh ra đời, tiếp tục kế thừa tư tưởng bản tâm lương tri của Mạnh Tử, ca ngợi Lục (Cửu Uyên) và ức chế Chu (Hi) hoàn thành hệ thống "Tâm học" kéo dài từ thời Mạnh Tử đến Lục Cửu Uyên rồi đến họ Vương.
_ Học thuyết Tâm của ta là lý và trí lương tri tuy là bước đột phá quan trọng trên con đường tư duy, nhưng nó dẫn đến tình trạng lạ lùng "thánh nhân đầy đường" cuối đời Minh, bọn tâm tính học gia tầm thường chìm đắm vào huyền học bàn suông. Có lẽ đó là điều không ngờ của Mạnh phu tử và Lục phu tử.
_ Tâm tính học của Mạnh Tử phần nào có màu sắc Phật học của Thiền tông. Phật giáo Ấn Độ được Trung Quốc hoá, buổi ban đầu truyền giáo Phật học đã mượn nhiều thuật ngữ triết học có sẵn ở bản địa, trong ấy có khái niệm "Tâm" là khái niệm quan trọng. Nhân tâm bao gồm hết thảy, nhân tâm quyết định tất cả sự vật tồn tại và phát triển. Tâm tính luận của Thiền tông rất gần với tư tưởng "người tận kỳ tâm ắt biết tính ấy. Biết tính ấy ắt biết Trời vậy. Giữ tâm ấy, nuôi tính ấy sở dĩ đủ thờ trời".
_ Nho học đời Tống phát triển lại bị ảnh hưởng rất lớn của Phật học. Từ trong hiện tượng ấy, chúng ta có thể thấy chỉnh thể văn hoá Trung Quốc quan hệ giữa các bộ phận với nhau là hết sức phức tạp. Tư tưởng chính trị của Mạnh Tử tiến bộ ở chỗ "dân là quý, xã tắc thứ nhì, vua đáng khinh", "dân chính là gốc nước" những câu tương tự như thế từ ngàn đời đã trở thành kho tàng dang ngôn của nhân loại. Mạnh Tử còn giảng giải "hãy nuôi khí hạo nhiên trong ta" và ông đem cả đời ông làm thể nghiệm thực tiễn giữ vững chí khí hạo nhiên cương cường. Mạnh Tử tôn trọng "những người phú quý không dâm tặc, nghèo đói không thay đổi (khí tiết), uy vũ không thể khuất phục, như vậy gọi là đại trượng phu" và khí tiết đáng quý ở câu "Ôi trời chưa muốn thiên hạ bình trị đấy thôi. Nếu muốn thiên hạ bình trị thì ngày nay ngoài ta ra còn có ai ?".
_ Mục tiêu giáo dục Mạnh Tử đưa ra là "ta muốn làm chính nhân tâm, bỏ tà thuyết, bãi hành vi xấu, trừ những lời dâm để mong kế thừa ba vị thánh xưa". Các giáo dục gia cổ đại Trung Quốc đều coi đó là mục tiêu chung để mong đạt tới.
_ Ảnh hưởng của Mạnh Tử trong văn hoá Trung Quốc về nhiều phuơng diện. Một học giả nước Mỹ khẳng định: "Trên toàn thế giới chỉ có vài triết học gia là có ảnh hưởng lớn như Mạnh Tử".t
Lương Anh Quang @ 13:01 26/07/2009
Số lượt xem: 2657
Số lượt thích:
0 người
 
- THƯƠNG ƯỞNG (26/07/09)
- MẶC TỬ (26/07/09)
- TÔN VÕ (26/07/09)
- KHỔNG TỬ (26/07/09)
- LÃO TỬ (26/07/09)
Các ý kiến mới nhất