Chào mừng quý vị đến với Violet Và Những Người Bạn.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa thế giới >
_ Người ta bình luận khen tặng Khổng Tử ra sao đều không thể gọi là quá lời. Trước đây hơn 2.000 năm, đại sử học gia Tư Mã Thiên khi đi thăm Khúc Phụ, quê hương Khổng Tử từng cảm khái viết: "Khổng Tử áo vải, truyền hơn mười đời, được các học giả coi là tông sư, từ thiên tử vương hầu đến thứ dân đều coi ông là bậc chí thánh".
_ Năm 1982, một học giả Mỹ viết: "Hành vi cao quý và tư tưởng lí luận đạo đức của Khổng Tử không chỉ ảnh hưởng đến người Trung Quốc, mà còn ảnh hưởng tới toàn nhân loại". Khổng Tử là người nước Lỗ thời Xuân Thu, tên là Khâu, tự là Trọng Ni. Từ thiếu niên đến 30 tuổi, Khổng Tử chuyên cần học và tập luyện nắm vững các tri thức về lễ nghi, âm nhạc, xạ tiễn, ngự xạ, thư (viết chữ), số (toán học) là sáu ngành tri thức căn bản thời ấy. Sau đó, ông đi giảng dạy bốn phương nghiên cứu học vấn trong vài chục năm rồi san định, biên soạn các sách được đời sau gọi là Lục kinh như: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu. Ông tự nói về mình "ba mươi thì lập thân, bốn mươi thì hết nghi ngờ, năm mươi hiểu mệnh trời, sáu mươi nói điều gì cũng thuận tai, bảy mươi có thể tùy ý muốn mà không sai trái" (tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ). Sáu kinh kể trên là bộ Luận ngữ do các đệ tử ông biên soạn sau này được người Trung Quốc gọi là Thánh điển.
_ Khổng Tử sống trong thời ký thay đổi lớn, biến động lớn. Từ lâu, thiên tử nhà Chu đã mất hết uy quyền, quyền lực rơi vào tay các vua chư hầu, cục thế xã hội biến chuyển thay đổi nhanh chóng, người ta mỗi người chọn cho mình một thái độ sống khác nhau. Là một triết nhân, thái độ của Khổng Tử hết sức phức tạp, ông vừa hoài cổ vừa sùng thượng đổi mới. Trong tâm trạng phân vân, dần dần ông hình thành tư tưởng lấy nhân nghĩa để giữ sự tồn tại chung và khai sáng ra hệ thống tư tưởng lớn nhất thời Tiên Tần là học phái Nho gia tạo ảnh hưởng sâu sắc tới xã hội Trung Quốc.
_ Hệ thống tư tưởng Nhân và Nghĩa của Khổng Tử, bất kể hàm nghĩa phong phú phức tạp đến đâu, nói cho cùng cũng chỉ là thiết lập một trật tự nghiêm cẩn cho quyền lực của bậc đế vương và thành lập một xã hội hoàn thiện. Hệ thống tư tưởng của ông ảnh hưởng tới hơn 2.500 năm lịch sử Trung Quốc.
_ Khổng Tử tuy sáng lập ra học thuyết Nhân Nghĩa Nho gia nhưng không được các quân vương thời Xuân Thu coi trọng mà phải do các hậu học như Tử Cống, Tử Tư, Mạnh Tử, Tuân Tử, truyền bá rộng về sau. Đức trị, Nhân chính và nhân cách hoàn thiện của Khổng Tử xem ra thích hợp với xã hội cổ đại Trung Quốc. Trải qua nhiều nỗ lực của bọn thống trị và các sĩ đại phu triều Hán, Khổng Tử và tư tưởng Nho gia của ông mới trở thành hệ thống tư tưởng chính thống. Đổng Trọng Thư đời Hán hấp thu nhân cách hoàn thiện và học thuyết nhân chính của Khổng Mạnh, phụ hội thêm cho Công Dương Xuân Thu lợi dụng âm dương bổ sung thay đổi lý luận trở thành học thuyết Thiên nhân hợp nhất cùng với học thuyết chính trị của Tuân Tử, khoác tấm áo thần học cho Nho học. Từ đó, Khổng Tử áo vải thuở sinh tiền chưa hề được hưởng chút vinh hoa phú quý, đến khi chết rồi mới được ân thưởng như thế. Từ Hán về sau, thời nào ông cũng được phong thụy hiệu, như đời Đường phong thụy ông ta là Văn Tuyên Vương, thời Tống phong ông là Chí thánh Văn Tuyên Vương, thời Nguyên phong thêm là Đại thành Chí thánh Văn Tuyên Vương, thời Minh tôn xưng là Chí thánh tiên sư, thời Thanh phong hiệu cho ông dài nhất là Đại thành Chí thánh Văn Tuyên Vương Khổng Tử, chính như Lỗ Tấn nói: "Ở Trung Quốc, Khổng phu tử được tất cả bọn quyền thế thờ phụng".
_ Từ Hán đến Thanh, Khổng học chủ yếu dùng hình thức kinh học để lưu truyền. Đường Thái Tông sau khi hoàn thành toàn diện thống nhất quốc gia, liền cho kinh học gia Khổng Dĩnh Đạt chú giải hiệu đính lại năm kinh Nho gia là Dịch, Thi, Thư, Tả truyện, Lễ ký thành bộ Ngũ kinh chính nghĩa gần như tổng kết toàn diện kinh học từ đời Hán đến đó. Ngũ kinh chính nghĩa trở thành sách giáo khoa dùng trong thi cử ở đời Đường. Khổng học càng đựoc giai cấp thống trị tín nhiệm, Đường Thái Tông nói rất rõ: "Nay trẫm yêu thích nhất là đạo của Nghiêu Thuấn và đạo của Chu (công) Khổng (Tử) coi như chim thêm cánh, như cá gặp nước, không thể không có được". Từ đó, Khổng Tử với đế vương, với chính phủ các triều đại đều có quan hệ như Đường Thái Tông đã hình dung.
_ Khi lịch sử phức tạp của Trung Quốc tiến vào thời kỳ phát đạt - thời kỳ nhà Tống, vị hoàng đế khai quốc là Tống Thái tổ Triệu Khuôn Dẫn lập tức chủ trì nghi thức long trọng tế tự Khổng Tử để biểu dương lòng hiếu để, vua còn thân chủ trì khoa thi tiến sĩ mà nội dung hoàn toàn theo Nho học. Đối với Nho học mới bột hưng ở thời Tống, chúng ta thường gọi đó là Lý học.
_ Nội dung và kết cấu của Lý học hết sức rộng lớn, bắt đầu từ Hàn Dũ đời Đường, trải qua nỗ lực của các ông Tôn Phục, Thạch Giới, Hồ Viên, Chu Đôn Di, Thiệu Ung, Trương Tái, Trình Di, Trình Hiệu đời Bắc Tống cho đến Chu Hi đời Nam Tống là người tập đại thành hoàn chỉnh hệ thống tư tưởng Lý học. Lý học Trình Chu nhấn mạnh Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín như lẽ trời (thiên lý) dùng học thuyết Khổng Mạnh làm nguồn gốc, hấp thu thêm các tư tưởng học thuyết của Phật giáo và Đạo giáo cung cấp sự nhu yếu cho xã hội quân chủ chuyên chế. Chu Hi tập chú giải thích các kinh điển Nho gia như Luận ngữ, Mạnh tử trở thành những sách giáo khoa bắt buộc của sĩ tử trong xã hội phong kiến và là tiêu chuẩn pháp định trong khoa cử của chính phủ, người nào phản đối lại dễ dẫn đến tai họa chết người. Điều ấy xem ra xa vời với chủ trương thiện lương, trí tuệ, ngoan cường của Khổng Tử thời Xuân Thu, góp phần tạo nên một hình ảnh Khổng Tử khác mang màu sắc vì yêu cầu giữ thiên lý mà diệt mất nhân dục, đạo mạo bàn xuông dẫn đến tiêu diệt cá tính, thậm chí hư ngụy giả dối nữa.
_ Ngoài Lý học của Trình Chu có địa vị chi phối, phái công học của Trần Lượng, Diệp Thích, phái tâm học cả Vương Dương Minh cũng đều tôn sùng Khổng Tử, hấp thu một phần tư tưởng cơ bản của ông. Những học thuyết này đều được lưu truyền rộng rãi và tạo ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội văn hoá Trung Quốc.
_ Do vì Khổng học được các đại sĩ phu tôn sùng, được các vương triều đua nhau đề xướng nên Khổng học thuận lợi thẩm thấu vào mọi lãnh vực trong mọi giai tần xã hội, từ rất sớm nó đã vượt qua biên giới dân tộc Hán trở thành tâm lý của cộng đồng dân tộc Trung Quốc, là cơ sở văn hoá của tín ngưỡng và tập tính.
_ Khổng Tử là đại tư tưởng gia, đồng thời là nhà đại giáo dục trong lịch sử. Lý luận giáo dục của ông là "hữu giáo vô loại" không phân biệt một ai chỉ cầu mở mang dân trí, "học nhi ưu tắc sĩ", học để ra làm quan hữu dụng cho đời, "tam nhân hành tất hữu ngã sư" (đi cùng với ba người ắt có một đáng làm thầy ta), ông khiêm tốn hiếu học và coi việc học là phải liên tục không bao giờ mệt mỏi để đạt đến nhân cách hoàn thiện. Ông còn là người chỉnh lý tập đại thành văn hiến điển tịch trước đời Tần, những tác phẩm chỉnh lý hiệu đính của ông được người đời sau gọi là lục kinh nghiên cứu toàn diễn Trung Quốc cổ đại về đủ mặt xã hội, văn hoá, học thuật, đồng thời là gốc nguồn của văn hoá Trung Quốc hàm chứa nhiều di sản văn hoá dân gian thẩm thấu sâu đậm vào sự phát triển của văn hoá Trung Quốc.
_ Tư tưởng Khổng Tử ảnh hưởng tới các mặt sử học, văn học, nghệ thuật, âm nhạc ở Trung Quốc. Một bộ Xuân Thu của ông đã vạch ra con đường phát triển hơn 2.000 năm trong sử học Trung Quốc. Ngày nay, Khổng Tử vẫn được coi như thánh nhân văn hoá và được cả thế giới Tây phương xưng tụng đủ biết ảnh hưởng tư tưởng của ông là to lớn đến dường nào.
__________________
Lương Anh Quang @ 12:57 26/07/2009
Số lượt xem: 1767
KHỔNG TỬ
KHỔNG TỬ
(Sinh năm 551 - mất năm 479 trước Công nguyên)
(Sinh năm 551 - mất năm 479 trước Công nguyên)
_ Người ta bình luận khen tặng Khổng Tử ra sao đều không thể gọi là quá lời. Trước đây hơn 2.000 năm, đại sử học gia Tư Mã Thiên khi đi thăm Khúc Phụ, quê hương Khổng Tử từng cảm khái viết: "Khổng Tử áo vải, truyền hơn mười đời, được các học giả coi là tông sư, từ thiên tử vương hầu đến thứ dân đều coi ông là bậc chí thánh".
_ Năm 1982, một học giả Mỹ viết: "Hành vi cao quý và tư tưởng lí luận đạo đức của Khổng Tử không chỉ ảnh hưởng đến người Trung Quốc, mà còn ảnh hưởng tới toàn nhân loại". Khổng Tử là người nước Lỗ thời Xuân Thu, tên là Khâu, tự là Trọng Ni. Từ thiếu niên đến 30 tuổi, Khổng Tử chuyên cần học và tập luyện nắm vững các tri thức về lễ nghi, âm nhạc, xạ tiễn, ngự xạ, thư (viết chữ), số (toán học) là sáu ngành tri thức căn bản thời ấy. Sau đó, ông đi giảng dạy bốn phương nghiên cứu học vấn trong vài chục năm rồi san định, biên soạn các sách được đời sau gọi là Lục kinh như: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu. Ông tự nói về mình "ba mươi thì lập thân, bốn mươi thì hết nghi ngờ, năm mươi hiểu mệnh trời, sáu mươi nói điều gì cũng thuận tai, bảy mươi có thể tùy ý muốn mà không sai trái" (tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ). Sáu kinh kể trên là bộ Luận ngữ do các đệ tử ông biên soạn sau này được người Trung Quốc gọi là Thánh điển.
_ Khổng Tử sống trong thời ký thay đổi lớn, biến động lớn. Từ lâu, thiên tử nhà Chu đã mất hết uy quyền, quyền lực rơi vào tay các vua chư hầu, cục thế xã hội biến chuyển thay đổi nhanh chóng, người ta mỗi người chọn cho mình một thái độ sống khác nhau. Là một triết nhân, thái độ của Khổng Tử hết sức phức tạp, ông vừa hoài cổ vừa sùng thượng đổi mới. Trong tâm trạng phân vân, dần dần ông hình thành tư tưởng lấy nhân nghĩa để giữ sự tồn tại chung và khai sáng ra hệ thống tư tưởng lớn nhất thời Tiên Tần là học phái Nho gia tạo ảnh hưởng sâu sắc tới xã hội Trung Quốc.
_ Hệ thống tư tưởng Nhân và Nghĩa của Khổng Tử, bất kể hàm nghĩa phong phú phức tạp đến đâu, nói cho cùng cũng chỉ là thiết lập một trật tự nghiêm cẩn cho quyền lực của bậc đế vương và thành lập một xã hội hoàn thiện. Hệ thống tư tưởng của ông ảnh hưởng tới hơn 2.500 năm lịch sử Trung Quốc.
_ Khổng Tử tuy sáng lập ra học thuyết Nhân Nghĩa Nho gia nhưng không được các quân vương thời Xuân Thu coi trọng mà phải do các hậu học như Tử Cống, Tử Tư, Mạnh Tử, Tuân Tử, truyền bá rộng về sau. Đức trị, Nhân chính và nhân cách hoàn thiện của Khổng Tử xem ra thích hợp với xã hội cổ đại Trung Quốc. Trải qua nhiều nỗ lực của bọn thống trị và các sĩ đại phu triều Hán, Khổng Tử và tư tưởng Nho gia của ông mới trở thành hệ thống tư tưởng chính thống. Đổng Trọng Thư đời Hán hấp thu nhân cách hoàn thiện và học thuyết nhân chính của Khổng Mạnh, phụ hội thêm cho Công Dương Xuân Thu lợi dụng âm dương bổ sung thay đổi lý luận trở thành học thuyết Thiên nhân hợp nhất cùng với học thuyết chính trị của Tuân Tử, khoác tấm áo thần học cho Nho học. Từ đó, Khổng Tử áo vải thuở sinh tiền chưa hề được hưởng chút vinh hoa phú quý, đến khi chết rồi mới được ân thưởng như thế. Từ Hán về sau, thời nào ông cũng được phong thụy hiệu, như đời Đường phong thụy ông ta là Văn Tuyên Vương, thời Tống phong ông là Chí thánh Văn Tuyên Vương, thời Nguyên phong thêm là Đại thành Chí thánh Văn Tuyên Vương, thời Minh tôn xưng là Chí thánh tiên sư, thời Thanh phong hiệu cho ông dài nhất là Đại thành Chí thánh Văn Tuyên Vương Khổng Tử, chính như Lỗ Tấn nói: "Ở Trung Quốc, Khổng phu tử được tất cả bọn quyền thế thờ phụng".
_ Từ Hán đến Thanh, Khổng học chủ yếu dùng hình thức kinh học để lưu truyền. Đường Thái Tông sau khi hoàn thành toàn diện thống nhất quốc gia, liền cho kinh học gia Khổng Dĩnh Đạt chú giải hiệu đính lại năm kinh Nho gia là Dịch, Thi, Thư, Tả truyện, Lễ ký thành bộ Ngũ kinh chính nghĩa gần như tổng kết toàn diện kinh học từ đời Hán đến đó. Ngũ kinh chính nghĩa trở thành sách giáo khoa dùng trong thi cử ở đời Đường. Khổng học càng đựoc giai cấp thống trị tín nhiệm, Đường Thái Tông nói rất rõ: "Nay trẫm yêu thích nhất là đạo của Nghiêu Thuấn và đạo của Chu (công) Khổng (Tử) coi như chim thêm cánh, như cá gặp nước, không thể không có được". Từ đó, Khổng Tử với đế vương, với chính phủ các triều đại đều có quan hệ như Đường Thái Tông đã hình dung.
_ Khi lịch sử phức tạp của Trung Quốc tiến vào thời kỳ phát đạt - thời kỳ nhà Tống, vị hoàng đế khai quốc là Tống Thái tổ Triệu Khuôn Dẫn lập tức chủ trì nghi thức long trọng tế tự Khổng Tử để biểu dương lòng hiếu để, vua còn thân chủ trì khoa thi tiến sĩ mà nội dung hoàn toàn theo Nho học. Đối với Nho học mới bột hưng ở thời Tống, chúng ta thường gọi đó là Lý học.
_ Nội dung và kết cấu của Lý học hết sức rộng lớn, bắt đầu từ Hàn Dũ đời Đường, trải qua nỗ lực của các ông Tôn Phục, Thạch Giới, Hồ Viên, Chu Đôn Di, Thiệu Ung, Trương Tái, Trình Di, Trình Hiệu đời Bắc Tống cho đến Chu Hi đời Nam Tống là người tập đại thành hoàn chỉnh hệ thống tư tưởng Lý học. Lý học Trình Chu nhấn mạnh Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín như lẽ trời (thiên lý) dùng học thuyết Khổng Mạnh làm nguồn gốc, hấp thu thêm các tư tưởng học thuyết của Phật giáo và Đạo giáo cung cấp sự nhu yếu cho xã hội quân chủ chuyên chế. Chu Hi tập chú giải thích các kinh điển Nho gia như Luận ngữ, Mạnh tử trở thành những sách giáo khoa bắt buộc của sĩ tử trong xã hội phong kiến và là tiêu chuẩn pháp định trong khoa cử của chính phủ, người nào phản đối lại dễ dẫn đến tai họa chết người. Điều ấy xem ra xa vời với chủ trương thiện lương, trí tuệ, ngoan cường của Khổng Tử thời Xuân Thu, góp phần tạo nên một hình ảnh Khổng Tử khác mang màu sắc vì yêu cầu giữ thiên lý mà diệt mất nhân dục, đạo mạo bàn xuông dẫn đến tiêu diệt cá tính, thậm chí hư ngụy giả dối nữa.
_ Ngoài Lý học của Trình Chu có địa vị chi phối, phái công học của Trần Lượng, Diệp Thích, phái tâm học cả Vương Dương Minh cũng đều tôn sùng Khổng Tử, hấp thu một phần tư tưởng cơ bản của ông. Những học thuyết này đều được lưu truyền rộng rãi và tạo ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội văn hoá Trung Quốc.
_ Do vì Khổng học được các đại sĩ phu tôn sùng, được các vương triều đua nhau đề xướng nên Khổng học thuận lợi thẩm thấu vào mọi lãnh vực trong mọi giai tần xã hội, từ rất sớm nó đã vượt qua biên giới dân tộc Hán trở thành tâm lý của cộng đồng dân tộc Trung Quốc, là cơ sở văn hoá của tín ngưỡng và tập tính.
_ Khổng Tử là đại tư tưởng gia, đồng thời là nhà đại giáo dục trong lịch sử. Lý luận giáo dục của ông là "hữu giáo vô loại" không phân biệt một ai chỉ cầu mở mang dân trí, "học nhi ưu tắc sĩ", học để ra làm quan hữu dụng cho đời, "tam nhân hành tất hữu ngã sư" (đi cùng với ba người ắt có một đáng làm thầy ta), ông khiêm tốn hiếu học và coi việc học là phải liên tục không bao giờ mệt mỏi để đạt đến nhân cách hoàn thiện. Ông còn là người chỉnh lý tập đại thành văn hiến điển tịch trước đời Tần, những tác phẩm chỉnh lý hiệu đính của ông được người đời sau gọi là lục kinh nghiên cứu toàn diễn Trung Quốc cổ đại về đủ mặt xã hội, văn hoá, học thuật, đồng thời là gốc nguồn của văn hoá Trung Quốc hàm chứa nhiều di sản văn hoá dân gian thẩm thấu sâu đậm vào sự phát triển của văn hoá Trung Quốc.
_ Tư tưởng Khổng Tử ảnh hưởng tới các mặt sử học, văn học, nghệ thuật, âm nhạc ở Trung Quốc. Một bộ Xuân Thu của ông đã vạch ra con đường phát triển hơn 2.000 năm trong sử học Trung Quốc. Ngày nay, Khổng Tử vẫn được coi như thánh nhân văn hoá và được cả thế giới Tây phương xưng tụng đủ biết ảnh hưởng tư tưởng của ông là to lớn đến dường nào.
__________________
Lương Anh Quang @ 12:57 26/07/2009
Số lượt xem: 1767
Số lượt thích:
0 người
 
- LÃO TỬ (26/07/09)
- CHU CÔNG (26/07/09)
- CHU VĂN VƯƠNG (26/07/09)
- Lê Hữu Trác (26/07/09)
Các ý kiến mới nhất